Showing posts with label Huế. Show all posts
Showing posts with label Huế. Show all posts

Tuesday, November 8, 2011

Lụt

Huế mưa trắng trời.
Nước mưa, nước sông, nước từ thượng nguồn đổ về, nước do đập thủy điện xả tràn. Dâng ngập lai láng.
Lụt.

Nước dưới sông tràn lên bờ, dâng lên đường, bò vào sân, len vào nhà. Lội bì bõm.
Huế một năm mà không có lụt là điềm lạ. Miền Trung không bão là chuyện bất thường.

Gọi phone về nhà không được. Gọi loanh quanh các ông bà chị để biết tình hình. Nước dâng không cao nhưng mà xuống rất chậm. Nước ngâm hai ngày nay rồi.  Mọi đi lại đều bị gián đoạn. Chỉ có ngồi chờ nước xuống mà thôi.
Bà chị nói: Thấy nước lên thì lo. Nhưng mà vẫn chưa sợ. Vì lụt mà không có bão.
Khi nào mà thấy "trời mưa mô gió nấy" thì khủng khiếp vô cùng. Lúc đó, cả miền Trung từ vùng Thanh-Nghệ, Trị-Thiên, vô tận 2 miền xứ Quảng oằn ra mà thay nhau gánh cái lụt và cái bão trên vai. Cắn răng chịu đựng.

Nguyên cả miền Trung đang sống dưới một cái bong bóng nước khổng lồ. Thủy điện đầu nguồn tràn lan.Vỡ lúc nào không hay. Nghĩ đến điều không dám nghĩ.
Nhớ đến trận lụt năm 75-76 gì đó. Xuýt chết.
Rồi trận lụt năm 1998. Nước dâng chấm mái. Ông bà già ngồi trên nóc đôn nhà. Nhai mì sống cả tuần. Nếu lúc đó chỉ cần nước dâng 1-2 tấc nữa, lâu thêm một hai ngày nữa. Cả cái làng sẽ trôi. Không biết về đâu?

Bây giờ chỉ có Quê hương và Mẹ già.
Cầu mong bình an!

Wednesday, July 20, 2011

Tên của con gái Huế

Hôm bữa người bạn mời đến nhà. Gặp bạn của bạn, rồi giới thiệu: Đây là Diệu Chi, đây là anh Sơn, gia đình ở bên Úc qua chơi... Nghe giới thiệu tên, nghĩ thầm trong bụng: wow! Lâu lắm mới nghe lại cái tên gọi đầy tính nữ Huế như cái tên này.

Nhớ lại hồi đi học, tên các nữ sinh thường được đặt theo như Mai Lan Cúc Trúc, Hạ Đào Phượng Thu... toàn là tên đẹp. Đặc biệt, với người Huế thường dùng thêm chữ lót như Kim, hoặc Diệu để đặt tên cho con gái. Ví dụ như Kim Hoa, Kim Chi, Kim Ngọc, Kim Phượng, Kim Hồng.. Còn Diệu thì có Diệu Thu, Diệu Minh, Diệu Hiền, Diệu Chi, Diệu Thiện...
Không hiểu vì lý do gì mà các bậc phụ huynh ở Huế thường chọn chữ lót đệm như vậy để đặt tên cho con gái. Cũng có thể là vì Huế có hai địa danh nổi tiếng là vùng Kim Long có nhiều gái mỹ miều, và chùa Diệu Đế danh tiếng của riêng xứ Huế (?)

Làm một phép thử so sánh thì chữ lót Kim khá phổ biến, và ở bất cứ vùng nào cũng đều có người có tên mang chữ lót là Kim. Không riêng gì Huế. Nhưng với Diệu, thì tôi nghĩ rằng, chỉ có riêng xứ Huế  mới làm nổi bật cái nét độc đáo của đất kinh kỳ riêng có mà thôi.
Chọn đại một cái tên gọi nào, đặt bên cạnh chữ Diệu thì sẽ thấy cái nét nhẹ nhàng thanh thoát ở cái danh xưng đó. Thử nhé: Diệu Hương, Diệu Quyên, Diệu Hồng... hoặc hãy gọi tên một người là Diệu Đức, Diệu Nam... Vẫn có nét bay bổng và thấy nhẹ tơn ở cái tên gọi.
Thiệt là diệu kỳ, và hết sức dịu dàng khi bất kỳ tên gọi nào được đứng bên cạnh nàng Diệu.

Với người Huế, khi nghe đến hai chữ tôn thất thì hiểu ngay đây là dòng dõi liên quan đến ông vua, bà chúa. Hậu duệ nhiều đời, nhiều hệ của chúa Nguyễn xứ Đàng trong. Và họ chính là Nguyễn Phước (Phúc). Nhưng theo thời gian, hai chữ tôn thất này cũng trở thành họ một cách ngon lành. Vậy, Tôn Thất hay Nguyễn Phước đều có chung là một.

Bên cạnh đó, vua Minh Mạng còn đặt thêm bài thơ : Đế hệ thi  và 10 bài Phiên hệ thi để phân biệt giòng dõi trực tiếp liên quan đến Vua Gia Long. Đây là một sự phân biệt khá phức tạp không chỉ riêng về những người có gốc gác để có thể làm Vương theo huyết thống, mà còn là một sự rắc rối nhức đầu về mặt hành chánh khi khai tên họ giữa cha và con cái. Họ của cha không giống với họ của con. Họ của ông Nội thì hoàn toàn khác với cháu. 20 mươi chữ của bài Đế hệ thi là như vầy: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh, Bảo Qui  Định Long Tường, Hiền Năng Kham Kế Thuật,  Thế Thụy Quốc Gia Xương

Ngoài ra, Huế nổi tiếng với những họ như: Thân Trọng, Hà Thúc, Nguyễn Khoa và Hồ Đắc.. là những giòng họ vốn rạng danh về khoa bảng. Nên dân gian Huế có câu: Họ Thân không nhà, họ Hà không dân với ngụ ý những người thuộc họ này thuộc danh gia vọng tộc.

Nhưng đó là Huế hoàng gia, Huế của vua quan. Với người Huế thường dân thì lối đặt tên chỉ cần chữ lót Diệu là bất kỳ tên gọi nào cũng thấy mềm như bún.

Nếu ra đường gặp ai có tên lót là Diệu như thế này, thử mon men đến hỏi: Nì, o nớ, o có phải là người có gốc gác liên quan đến Huế?
Dạ phải.
Nghe thiệt là diệu vợi phải không hè?

Tuesday, June 28, 2011

23 tháng Năm, ngày thất thủ kinh đô

Tuần rồi gọi điện thoại về cho Mạ hỏi thăm sức khỏe. Mạ nói vẫn bình thường. Hỏi thêm chuyện nhà, Mạ nói chẳng có gì. Huế vô hè rồi, ve kêu ồn ã, phượng nở đỏ trời. Nắng. Nóng.
Sau khi hỏi han, tính gác phôn thì nghe giọng bà chị nói với Mạ là sẽ ghé chợ mua chuối và bông để cho Mạ cúng kiếng gì đó. Hỏi thêm, nhà có kỵ gì? Mạ nói: Kỵ giỗ ở nhà thì không. Nhưng cúng 23 tháng Năm.

23 tháng Năm. Tính theo lịch âm. Ngày thất thủ kinh đô. Ngày mà Vua cùng quan và dân thường tan tác chạy loạn trong mịt mùng khói lửa khi Pháp đánh úp kinh thành Huế năm Ất Dậu, 1885. Hàng ngàn người chết trận, chết bờ, chết bụi. Một ngày não nùng. Và người Huế, theo hàng năm, lại âm thầm thương xót bày bàn thờ ra đường, ra ngõ để cúng, để tưởng nhớ, để tiếc, để thương cho những vong hồn oan khiên.

Huế có nhiều địa danh đẹp được gọi tên một cách mỹ miều như Kim Long Vỹ Dạ, Hương Trà... Nhưng cũng có địa danh khi gọi lên thì gợi cho người ta sự sợ hãi và ám ảnh như Ngã tư Âm hồn, Chín hầm, Khe Suối máu...  Ngay tại trong kinh thành Huế có một cái miếu gọi là miếu Âm hồn. Nghe đâu là một ngôi mộ chung chôn nhiều người tử trận, dân gian lập nên miếu thờ này và thường xuyên đến cúng viếng, lễ bái để bày tỏ lòng tiếc thương đến với hương linh của những oan hồn sĩ tử.

Lễ cúng tại Miếu Âm hồn (Hình: Google)

Cúng 23 tháng Năm trong quan niệm của những người Huế dân gian là lễ cúng đơn giản nhưng hết sức lòng thành. Ngoài bình bông, nải chuối, giấy tiền, áo binh vàng bạc, thì trên mâm cúng có cơm vắt, muối mè, khoai lang, sắn hấp, bắp trái, đậu luộc.. nói chung là cúng đồ khô để cho tiện, gọn nhẹ để "người ta" xách đi. Và đặc biệt là nấu nhiều nước chè để cúng cho người chaỵ loạn thỏa cơn khát trong cái nắng của tháng Năm. Hoặc bên cạnh có đốt đống lửa to để sưởi ấm cho những linh hồn chết lạnh vì sông nước.

Nhớ hồi còn nhỏ, mỗi lần ở nhà có cúng, có kỵ là mừng. Cuộc sống tuy chật vật, khó khăn, nhưng không riêng gì gia đình tôi, mà trong tâm thức của người Huế nói chung thì cứ đến tháng Năm vẫn nhớ đến ngày kinh đô thất thủ. Ở nhà tôi, cúng 23 tháng Năm thì cây nhà lá vườn, có gì cúng đó. Ngoài những vật phẩm kể trên thì vườn nhà có trái mít, trái thơm cũng đem ra chia sẻ với kẻ khuất mặt khuất mày.

Văn hóa cúng bái của người Huế thường được xem là lễ nghi rườm rà, nhưng lại rất đơn giản bởi sự thành tâm và tùy gia cảnh của những người dương thế.

Sửa soạn bàn cúng trước cửa nhà (Hình: Google)

Văn hóa Huế ngoài những mặt nổi có vẻ sang trọng, đài các được tôn vinh làm di sản thế giới, hoặc văn hóa phi vật thể của chốn cung đình... thì văn hóa tâm linh là phần nền tảng làm nên cái đặc sắc của văn hóa Huế. Ai đến Huế cũng có chung nhận xét rằng: đất chi mà buồn da diết. Âm âm u u đến não lòng. Bởi Huế là vùng đất gắn chặt với nhiều biến cố lịch sử của sự chết chóc, phân tán, chia ly...

Mạo muội điểm lại lịch sử để thấy đất Thuận Hóa ngày nay có được, là kết quả nỗi niềm ly biệt của Huyền Trân Công chúa.
Ở khu vực kế cận vùng quê tôi sống có di tích Thành Lồi. Mô đất cao chồm hổm như ngáng chân người đi, đã trở thành một vết sẹo lồi của người Hời từ một vết thương đã bị người Việt của thời đại nhà Trần cứa đứt. Người Hời đã để lại mảnh đất của họ và chấp nhận ra đi vì thua mẹo đắp thành của người Đại Việt.
Trong lịch sử cận và hiện đại Việt Nam, thì Huế là một nơi của chốn đao binh mang nhiều vết cắt. Vua Hàm Nghi cùng quan cận thần Tôn Thất Thuyết bỏ thành quách để lên rừng viết Chiếu Cần Vương. Phật giáo Huế cũng tan tác bởi biến cố 1963. Tết Mậu thân 1968 thì Huế mang một "vành khăn sô" ly biệt. Đến năm 1975 thì người Huế chạy, chạy và chỉ có chạy.. đó là thời điểm mà người Huế dáo dác và í ới kéo nhau chạy tứ bề, chạy tan tác khắp nơi...
Cửa Thuận An là nơi quân Pháp nã phát pháo đầu tiên báo điềm dữ cho ngày kinh đô thất thủ, và cũng từ địa danh này xác người la liệt nằm trên cửa biển, và Huế như được xem là nơi đã mở đầu cho một cuộc tháo chạy chưa từng có trong lịch sử hiện đại của VN.

Vậy cho nên không phải ngẫu nhiên mà Huế có nhiều am thờ, đình chùa, miếu mạo, và người Huế cứ mãi lo về chuyện tâm linh cúng bái, nhớ về người đã khuất để hương khói suốt tháng, quanh năm.

Huế nặng tâm linh bởi Huế lắm điêu linh. Đã qua hơn một trăm năm nay, và hy vọng hai trăm và nhiều trăm năm sau, vẫn còn người Huế nhớ về ngày kinh đô thất thủ.