Trong khuôn khổ của liên hoan phim quốc tế Việt Nam VIFF - tháng Tư - 2011, tôi đã được xem phim "Cánh đồng bất tận", được dựa theo truyện ngắn cùng tên, nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Bàn về truyện này thì xin được miễn "mót lúa cuối mùa", vì đây là một tác phẩm văn học đã được bàn luận nhiều lắm rồi. Trước khi vào xem phim, cảm giác cứ thấy lấn cấn, và tò mò, mặc dù chưa đọc truyện này. Nhờ chưa đọc truyện nên dù sao thì vẫn cứ thấy thoải mái hơn những người đã đọc thuộc, thậm chí ghiền giọng văn của Nguyễn Ngọc Tư.
Làm phim dựa vào một tác phẩm văn học được nhiều người biết đến, về một mặt nào đó, là một lợi thế. Nhưng làm sao để nó thành công, và được tán thưởng thì không dễ chút nào. Trường hợp "Cánh đồng bất tận", theo tôi, có thể lấy đó là một ví dụ.
Nghĩ như vầy: Đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình sẽ không tự hào gì về phim này, chắc chắn anh sẽ rút kinh nghiệm nhiều. Thậm chí, có thể đạo diễn Bình không muốn nhắc đến phim này cũng nên(?).
Về nhà tìm truyện đọc, sau khi đã xem phim. Lờ mờ lý giải sự không gây ấn tượng của phim là do kịch bản. Nhà biên kịch Ngụy Ngữ đã không để lại dấu ấn điện ảnh gì khi chuyển thể tác phẩm văn học này. Ông đã bám quá sát vào câu chuyện, vì vậy những khung hình di động trên màn ảnh chỉ là một sự minh họa đơn giản cho nội dung văn học. Không tìm thấy ngôn ngữ đặc quánh của nghệ thuật hình ảnh thì rõ ràng những gì thấy trên màn ảnh là một sự lệch pha.
Xem phim, không tìm thấy được ngôn ngữ chắt lọc của hình ảnh, không thấy được những chi tiết đắt giá, không thấy được dấu ấn riêng biệt-Nguyễn-Phan-Quang-Bình. Đạo diễn trong phim này, mơ hồ là người đứng giữa chỉ làm công việc chạy qua chạy lại ghi nhận hình ảnh của tác phẩm văn học và kịch bản điện ảnh. Mà công việc này thì đã có nhà quay phim hoặc giám đốc hình ảnh - director of photography (DP) trong đoàn phim đảm trách.
Với những phim mà nội dung là một câu chuyện có sẵn như "Cánh đồng bất tận", hay "Chuyện của Pao", hoặc những phim có nội dung hình thức chuyện kể tương tự khác... Thì việc kết hợp toàn bộ những cảnh quay lại để thành một câu chuyện về hình ảnh, đòi hỏi nhà đạo diễn phải có tư duy sáng tạo và logic để kể câu chuyện làm sao thu hút được người xem.
Ai đã từng xem "Chuyện của Pao" (Hải Yến đóng), cũng có lối dẫn chuyện như Nương trong "Cánh đồng bất tận" thì sẽ có cái nhìn đánh giá về lối kể chuyện bằng hình ảnh của phim nào hấp dẫn hơn.
Đạo diễn làm phim này không hay là do kịch bản, là do không kể được câu chuyện một cách sáng tạo theo lối của riêng mình và một phần do diễn xuất của nhân vật trong phim.
Đã đành, không tìm thấy sự sáng tạo về mặt điện ảnh trong phim, người xem rõ ràng nhìn ra được nhân vật Sương (Hải Yến đóng) cũng một phần làm cho phim này bị hỏng. Diễn xuất không có gì nổi bật, thể hình và chất giọng yếu của Hải Yến không phù hợp vào vai gái làng chơi. Vì vậy, khâu casting, chọn vai cho nhân vật này đã sai lầm khi giao vai Sương cho Hải Yến.
Không trách gì Hải Yến, không thể đòi hỏi gì nhiều ở cô khi cô cầm trong tay một kịch bản xơ cứng của Ngụy Ngữ, dưới sự chỉ đạo về mặt diễn xuất thiếu sáng tạo của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình. Tiếc là... cô Phượng trong " The quiet American" đã quá ngoan ngoãn làm theo những gì nói trong kịch bản, bám sát vào câu chuyện để rồi không một chút bứt phá.
Nhà biên kịch Ngụy Ngữ, đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình, diễn viên Hải Yến đã cảm thấy lúng túng khi đứng bên cạnh người-nổi-tiếng-văn-học "Cánh đồng bất tận".
Vì vậy, phim này là một phim dễ được ưu ái về mặt nội dung đối với những ai đã từng đọc truyện của Nguyễn Ngọc Tư. Và phim này gây được cơn sốt vé đối với những khán giả chưa đọc truyện, vì tò mò muốn "xem-câu-chuyện-nổi-tiếng" như thế nào cũng là điều dễ hiểu.
Showing posts with label VIFF. Show all posts
Showing posts with label VIFF. Show all posts
Sunday, May 1, 2011
Wednesday, April 20, 2011
Bi, Đừng sợ - Hãy cứ xem phim!
Đem bế mạc của VIFF, chiếu phim Bi, Đừng sợ của Phan Đăng Di. Xem xong, mọi người nhào ra đụng nhau và hỏi. Hiểu không? hiểu không? Thấy sao hả?
Nghĩ, Phan Đăng Di làm phim như vậy là thành công. Vừa là tác giả kịch bản, lại làm đạo diễn cho phim này luôn, cho nên có thể nói đây là một tác phẩm mang dấu ấn rất riêng với ngôn ngữ điện ảnh của Phan Đăng Di.
Thật là khó để bắt đầu như thế nào khi nói về phim này. Đây là bộ phim không phải kể lại cuộc đời của Bi để mọi người lần theo, với một chiều tuyến tính thời gian có trước có sau thường thấy. Nội dung của phim là một sự mô tả những gì đang xảy ra xung quanh cuộc sống của một cậu bé 6 tuổi.
Bi sống trong một gia đình có nhiều người lớn. Một ông Nội, già bệnh suốt ngày nằm giường. Một bà vú già giúp việc có mặt từ đời nào mà Bi không hay biết. Một ông bố rất ít khi quan tâm đến chuyện nhà. Một bà mẹ quán xuyến việc nhà và chăm sóc cho người ông, và một bà cô chưa chồng và thường tránh xa những mối quan hệ và ít khi giao tiếp.
Thế giới của Bi là xưởng nước đá, ngôi nhà, và bãi lau ở bờ sông. Và người lớn xung quanh Bi là những người có nhiều nhục dục và nhiều ham muốn.
Một người ông ham muốn giải thoát những cơn đau triền miên, một ông bố muốn thỏa cơn khát và nỗi bức bối của mình bằng cách đắm chìm miên man trên bàn nhậu. Một bà mẹ cố nén những khát khao của mình trong nhẫn nhục rấm rức, một bà cô muốn thõa mãn dục tình qua những vụng trộm riêng tư.
Mọi cảm giác khao khát, những ham muốn mong được giải tỏa đã được đặc tả trong phim với ngôn ngữ rất riêng của chính Phan Đăng Di. Anh đã xáo trộn và sắp xếp theo cách anh nhìn, những ẩn dụ đã được phô bày theo cái cách mà anh cho là hợp lý.
Hình tượng nước được sử dụng trong phim qua nhiều thể dạng: rắn và lỏng với nhiều ngụ ý. Xưởng nước đá là nơi Bi thích tìm đến để trốn cái nóng hầm hập của Hà Nội. Nước đá để uống bia, làm thỏa mãn cơn khát trốn trách nhiệm của bố, nước đá làm giảm cơn đau của ông, xoa dịu nỗi phấn khích của cô, nước mưa rửa sạch những những bùn nhơ của các cậu học trò, là hình ảnh xanh dịu của mảng hồ bơi mà người cô ước mơ thèm muốn.
Nếu xem nước, một hình ảnh ước lệ của điện ảnh, được xử lý rất nhiều, nhằm khỏa lấp những ham muốn của các nhân vật trong phim, thì hình ảnh người phụ nữ được mô tả trong phim qua những cảnh dục tình lại đầy hiện thực. Giữa hai tuyến nhân vật đàn ông - đàn bà, thì hình ảnh người đàn bà trong phim là sự nhẫn nại chịu đựng đàn ông và là công cụ cho người đàn ông thỏa mãn.
Người con dâu nhẫn nhịn phục vụ cha, chồng, rồi đến con. Hình ảnh cô nằm im cho cha chồng ôm mình vì cơn đau khiến cho người xem thấy bàng hoàng. Anh chồng vô trách nhiệm và ít khi gần gũi vợ, chỉ thích tìm thú vui bên những cô gái quê sau những cuộc nhậu say.
Giữa cái nóng hầm hập của Hà nội những đêm mất điện, tình dục không còn mang ý nghĩa thăng hoa mà chỉ là những giải quyết sự bức bối lâu ngày. Hình ảnh trần truồng của đôi vợ chồng được ghi lại dưới góc quay đặc tả, trong cái bóng tối nhão nhoẹt vì mồ hôi, âm thanh oằn oặt của chiếc đệm lò xo, anh chồng hùng hục trút những ức chế của mình lên cô vợ khiến người xem nín thở.
Tình dục trong phim không phải là những cảnh khiêu dâm, nó chỉ đơn giản mô tả những xúc cảm tự nhiên bình thường mà con người luôn tránh né hoặc có cái nhìn méo mó. Hình ảnh làm tình của cô Thúy và người bạn tên Trung bên bờ đá của biển Hải phòng, đó không phải ham muốn hòa hợp mà là sự mưu mô và toan tính vụng về của một đôi đũa lệch. Chính vì vậy mà người cô vẫn nghĩ đến anh học trò, cô thèm khát ngắm nhìn cơ thể của anh và mơ tưởng về anh ở mảng xanh hồ bơi êm dịu.
Trên màn ảnh, ta thấy Bi hồn nhiên, trong trẻo và không sợ điều gì. Nhưng cái cảm giác sợ lại xảy ra ở người xem ở bên ngoài hàng ghế.
Đây là điểm rất thú vị và phải nói rất hay trong cách làm phim của Phan Đăng Di. Người xem sợ cho Bi mỗi khi đưa cánh tay đẩy cánh cửa ra vào, không biết cái gì sẽ xảy ra? Sợ cho Bi gặp những cảnh quay bạo liệt, lo lắng, không biết Bi khám phá tiếp, hoặc tìm thấy những bí mật gì?
Đối với người xem, Phan Đăng Di xây dựng nhân vật chú An quả là điều bí mật. Bi luôn miệng gọi chú An, nhưng nhân vật này chẳng xuất hiện bao giờ. Cũng như Bi, cái bí mật trẻ thơ là quả dưa được giấu ở bãi sông. Ông bố giấu bí mật của mình ở tiệm gội đầu, massage trong hẻm tối. Bí mật của ông Nội là những lá phong ở đâu bên châu Mỹ. Quá khứ, hiện tại, tương lai của giới đàn ông đều luôn có bí mật của riêng mình.
Mặc dù hình ảnh trong phim được xáo trộn và lắp ghép có chủ đích của đạo diễn, nhưng mạch phim được xây dựng theo thời gian có quá khứ, có hiện tại và tương lai một cách rõ ràng. Quá khứ của người ông bị hiện tại của người bố khước từ. Dù đã cố gắng níu kéo sự liên thông giữa quá khứ và hiện tại bằng hình ảnh ông bố bị ho ra máu với hình ảnh người con ngã lăn kềnh ra đường trong cuộc nhậu.
Nhưng tính phi lý của cuộc sống hiện sinh vẫn tiếp tục thả giàn trên bàn bia khi anh nhận điện thoại biết tin bố chết một cách dửng dưng, như nhân vật Meursault trong truyện Người xa lạ của Albert Camus.
Đoạn tuyệt với quá khứ, người-cha-hiện-tại chẳng quan tâm lo lắng đến Bi-tương-lai. Suốt bộ phim chỉ nghe mỗi một tiếng: Con đâu? Rồi im bặt.
Tương lai của Bi như đã đoạt định vốn lâu đời nay: đàn ông vẫn không thoát khỏi bàn tay chăm sóc của người phụ nữ.
Suốt bộ phim Bi không sợ điều gì, nhưng Bi vẫn hoảng loạn nghe tiếng mẹ khóc rấm rức, và Bi thảng thốt kêu mẹ giữa đêm thanh vắng.
Bi or Be, hãy cứ như thế, hãy cứ xem phim. Hiện thực cuộc sống vốn khốc liệt hơn những gì ta thấy trên phim. Biết tìm hiểu và tìm cách tiếp nhận thì sẽ trưởng thành và chẳng có gì gây sốc!!!
Nghĩ, Phan Đăng Di làm phim như vậy là thành công. Vừa là tác giả kịch bản, lại làm đạo diễn cho phim này luôn, cho nên có thể nói đây là một tác phẩm mang dấu ấn rất riêng với ngôn ngữ điện ảnh của Phan Đăng Di.
Thật là khó để bắt đầu như thế nào khi nói về phim này. Đây là bộ phim không phải kể lại cuộc đời của Bi để mọi người lần theo, với một chiều tuyến tính thời gian có trước có sau thường thấy. Nội dung của phim là một sự mô tả những gì đang xảy ra xung quanh cuộc sống của một cậu bé 6 tuổi.
Bi sống trong một gia đình có nhiều người lớn. Một ông Nội, già bệnh suốt ngày nằm giường. Một bà vú già giúp việc có mặt từ đời nào mà Bi không hay biết. Một ông bố rất ít khi quan tâm đến chuyện nhà. Một bà mẹ quán xuyến việc nhà và chăm sóc cho người ông, và một bà cô chưa chồng và thường tránh xa những mối quan hệ và ít khi giao tiếp.
Thế giới của Bi là xưởng nước đá, ngôi nhà, và bãi lau ở bờ sông. Và người lớn xung quanh Bi là những người có nhiều nhục dục và nhiều ham muốn.
Một người ông ham muốn giải thoát những cơn đau triền miên, một ông bố muốn thỏa cơn khát và nỗi bức bối của mình bằng cách đắm chìm miên man trên bàn nhậu. Một bà mẹ cố nén những khát khao của mình trong nhẫn nhục rấm rức, một bà cô muốn thõa mãn dục tình qua những vụng trộm riêng tư.
Mọi cảm giác khao khát, những ham muốn mong được giải tỏa đã được đặc tả trong phim với ngôn ngữ rất riêng của chính Phan Đăng Di. Anh đã xáo trộn và sắp xếp theo cách anh nhìn, những ẩn dụ đã được phô bày theo cái cách mà anh cho là hợp lý.
Hình tượng nước được sử dụng trong phim qua nhiều thể dạng: rắn và lỏng với nhiều ngụ ý. Xưởng nước đá là nơi Bi thích tìm đến để trốn cái nóng hầm hập của Hà Nội. Nước đá để uống bia, làm thỏa mãn cơn khát trốn trách nhiệm của bố, nước đá làm giảm cơn đau của ông, xoa dịu nỗi phấn khích của cô, nước mưa rửa sạch những những bùn nhơ của các cậu học trò, là hình ảnh xanh dịu của mảng hồ bơi mà người cô ước mơ thèm muốn.
Nếu xem nước, một hình ảnh ước lệ của điện ảnh, được xử lý rất nhiều, nhằm khỏa lấp những ham muốn của các nhân vật trong phim, thì hình ảnh người phụ nữ được mô tả trong phim qua những cảnh dục tình lại đầy hiện thực. Giữa hai tuyến nhân vật đàn ông - đàn bà, thì hình ảnh người đàn bà trong phim là sự nhẫn nại chịu đựng đàn ông và là công cụ cho người đàn ông thỏa mãn.
Người con dâu nhẫn nhịn phục vụ cha, chồng, rồi đến con. Hình ảnh cô nằm im cho cha chồng ôm mình vì cơn đau khiến cho người xem thấy bàng hoàng. Anh chồng vô trách nhiệm và ít khi gần gũi vợ, chỉ thích tìm thú vui bên những cô gái quê sau những cuộc nhậu say.
Giữa cái nóng hầm hập của Hà nội những đêm mất điện, tình dục không còn mang ý nghĩa thăng hoa mà chỉ là những giải quyết sự bức bối lâu ngày. Hình ảnh trần truồng của đôi vợ chồng được ghi lại dưới góc quay đặc tả, trong cái bóng tối nhão nhoẹt vì mồ hôi, âm thanh oằn oặt của chiếc đệm lò xo, anh chồng hùng hục trút những ức chế của mình lên cô vợ khiến người xem nín thở.
Tình dục trong phim không phải là những cảnh khiêu dâm, nó chỉ đơn giản mô tả những xúc cảm tự nhiên bình thường mà con người luôn tránh né hoặc có cái nhìn méo mó. Hình ảnh làm tình của cô Thúy và người bạn tên Trung bên bờ đá của biển Hải phòng, đó không phải ham muốn hòa hợp mà là sự mưu mô và toan tính vụng về của một đôi đũa lệch. Chính vì vậy mà người cô vẫn nghĩ đến anh học trò, cô thèm khát ngắm nhìn cơ thể của anh và mơ tưởng về anh ở mảng xanh hồ bơi êm dịu.
Trên màn ảnh, ta thấy Bi hồn nhiên, trong trẻo và không sợ điều gì. Nhưng cái cảm giác sợ lại xảy ra ở người xem ở bên ngoài hàng ghế.
Đây là điểm rất thú vị và phải nói rất hay trong cách làm phim của Phan Đăng Di. Người xem sợ cho Bi mỗi khi đưa cánh tay đẩy cánh cửa ra vào, không biết cái gì sẽ xảy ra? Sợ cho Bi gặp những cảnh quay bạo liệt, lo lắng, không biết Bi khám phá tiếp, hoặc tìm thấy những bí mật gì?
Đối với người xem, Phan Đăng Di xây dựng nhân vật chú An quả là điều bí mật. Bi luôn miệng gọi chú An, nhưng nhân vật này chẳng xuất hiện bao giờ. Cũng như Bi, cái bí mật trẻ thơ là quả dưa được giấu ở bãi sông. Ông bố giấu bí mật của mình ở tiệm gội đầu, massage trong hẻm tối. Bí mật của ông Nội là những lá phong ở đâu bên châu Mỹ. Quá khứ, hiện tại, tương lai của giới đàn ông đều luôn có bí mật của riêng mình.
Mặc dù hình ảnh trong phim được xáo trộn và lắp ghép có chủ đích của đạo diễn, nhưng mạch phim được xây dựng theo thời gian có quá khứ, có hiện tại và tương lai một cách rõ ràng. Quá khứ của người ông bị hiện tại của người bố khước từ. Dù đã cố gắng níu kéo sự liên thông giữa quá khứ và hiện tại bằng hình ảnh ông bố bị ho ra máu với hình ảnh người con ngã lăn kềnh ra đường trong cuộc nhậu.
Nhưng tính phi lý của cuộc sống hiện sinh vẫn tiếp tục thả giàn trên bàn bia khi anh nhận điện thoại biết tin bố chết một cách dửng dưng, như nhân vật Meursault trong truyện Người xa lạ của Albert Camus.
Đoạn tuyệt với quá khứ, người-cha-hiện-tại chẳng quan tâm lo lắng đến Bi-tương-lai. Suốt bộ phim chỉ nghe mỗi một tiếng: Con đâu? Rồi im bặt.
Tương lai của Bi như đã đoạt định vốn lâu đời nay: đàn ông vẫn không thoát khỏi bàn tay chăm sóc của người phụ nữ.
Suốt bộ phim Bi không sợ điều gì, nhưng Bi vẫn hoảng loạn nghe tiếng mẹ khóc rấm rức, và Bi thảng thốt kêu mẹ giữa đêm thanh vắng.
Bi or Be, hãy cứ như thế, hãy cứ xem phim. Hiện thực cuộc sống vốn khốc liệt hơn những gì ta thấy trên phim. Biết tìm hiểu và tìm cách tiếp nhận thì sẽ trưởng thành và chẳng có gì gây sốc!!!
Wednesday, April 13, 2011
Chơi vơi
Tối hôm Chủ nhật, lặn lội xuống UCI coi phim Chơi vơi, được trình chiếu trong tuần lễ VIFF. Bỏ công đi ăn giỗ, nhưng hoàn toàn không lỗ bữa cày. Một phim đáng coi.
Khán phòng hôm đó không còn chỗ trống. Chắc là có nhiều người coi vé free như mình(?). Bất ngờ.
Không có đạo diễn hay đoàn làm phim đến. Thế là về sớm. Không có phần Q&A nhưng lên xe thì mọi người (5 tên) cũng có lời qua tiếng lại về Chơi vơi.
Đây là phim thuộc về thể loại cảm giác. Ngay cái tựa cũng đã nói lên cái gì rồi. Kiếm tìm cái gì khác trong phim này là điều không thể. Nên xem đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đưa cảm giác chơi vơi lên phim ra sao.
Chơi vơi là một bộ phim không có cốt truyện, kịch bản của Chơi vơi (tác giả Phan Đăng Di) hoàn toàn không có mục đích kể câu chuyện với kiểu dẫn chuyện có mở đầu, có cao trào, gút thắt, nút mở... mà ta thường thấy. Chơi vơi chỉ là một lát cắt phản ánh đời sống xoay quanh 4 nhân vật chính, họ gặp phải tình trạng bế tắc, không lối thoát trong không gian đô thị chật hẹp mà bối cảnh chính là Hà nội.
Duyên, Cầm, Hải, Thổ. Tên gọi của 4 nhân vật- vốn được thể hiện trong phim nhiều nhất, theo tôi nghĩ, đều có ý nghĩa riêng theo chủ đích của tác giả kịch bản.
Duyên, có mối liên hệ với hầu hết các nhân vật khác trong phim. Duyên là vợ của Hải, là bạn của Cầm, là người đến với Thổ, gặp gỡ được cô bạn tình của Thổ, là người biết câu chuyện của ông bà nội. Sự gặp gỡ xảy ra tưởng như là tình cờ nhưng thực ra đó là một sự sắp đặt có "tính nhân duyên" đúng như tên gọi của chính nhân vật. Duyên tồn tại lơ lửng trong phim. Cô lấy Hải sau khi chỉ quen Hải được 3 tháng. Duyên lạc lõng trong mối quan hệ gia đình, không tìm thấy sự hòa điệu nên cô thường tìm đến Cầm. Rồi đánh đu thân phận của mình trong vòng tay của Thổ.
Cầm, nhà văn sống trong khung cảnh xa rời hiện thực. Luôn luôn có tâm trạng bế tắc, bất cần đời sống bên ngoài. Sự tồn tại của nhân vật này có thể là vô nghĩa với hiện thực, nhưng lại mang tính thiết yếu vì Cầm tạo nên những cung bậc, sắc âm trong mối liên hệ giữa Duyên và các nhân vật khác. Hờ hững với cuộc sống bên ngoài, mặc dù là đầu mối của những sợi dây quan hệ, nhưng chính Cầm lại không tìm được lối thoát ngoài việc vùi mình trong những trang viết đờ đẫn ở một không gian bó hẹp và u tối của căn nhà với mẹ cô.
Hải, vô tư hồn nhiên như nước mặc dù anh không còn là trẻ con. Hải chơi vơi vì xa sự chăm sóc của mẹ, dù đã lập gia đình. Anh lái taxi đi đón vợ, chở mái ấm gia đình của mình như công việc thường ngày anh vẫn làm là đưa và đón khách. Mở đầu bộ phim là cảnh Hải đưa vợ mới cưới vể tổ ấm mới của mình, và kết thúc bộ phim là Hải chờ đón Duyên, và Duyên vẫn ngồi phía sau như vị khách đi taxi với cảm giác chơi vơi trong thành phố lạ.
Thổ, một nhân vật được xây dựng có vẻ bí hiểm, một kẻ cơ hội được tồn tại rất phù hợp và cần thiết cho những người như Duyên, như Cầm hoặc cô tình nhân đã theo đuổi y trong sáu năm. Thổ là cơ hội tìm thấy sự thỏa mãn của Duyên, là nơi nhận những lá thư không hề được đọc của Cầm, là nơi bám víu không tương lai của một tình yêu không đáp trả. Thổ chính là bạn đồng hành của cảm giác chơi vơi, cần nơi bấu víu của phụ nữ.
Chơi vơi không chỉ là cảm giác riêng có ở bốn nhân vật có tên gọi trong phim, mà là một trạng thái chung của xã hội đối với những cư dân đang sống bị dồn nén trong một không gian đô thị bức bối, của một Hà nội chật hẹp mà trong phim mô tả. Người ta sống, ăn ở, chung đụng với trạng thái không có lối thoát đó xem như là sinh hoạt bình thường. Không mảy may tìm cách giải thoát tình trạng dật dờ đó. Mà ngược lại, chấp nhận sự hiện diện của chơi vơi như là một giải pháp tối ưu để không thấy cảm giác đó đang tồn tại.
Bà mẹ của Hải với đôi mắt thờ ơ nhìn con trai và bạn bè say bí tỉ trong tiệc rượu. Một đôi lời dặn dò qua loa làm hành trang cho cuộc hôn nhân của con mình.
Bà nội của Duyên vẫn nhẫn nhục săn sóc ông chồng già, bà thản nhiên không buồn không biết khi Duyên hỏi về những mối tình vụng trộm của ông khi thời trai trẻ.
Ông bố mê chọi gà, đứa bé gái mê tắm bồn, tay cờ bạc, hoặc mẹ của Cầm... tất cả vẫn miệt mài hít thở cái chông chênh, chơi vơi một cách thản nhiên như công việc mà họ vẫn làm thường ngày không có gì thay đổi.
Phim Chơi vơi là một lát cắt ngang, còn tui viết bài này như chẻ trái cau ra làm sáu. Mỗi người coi phim đều có cách nhận xét của riêng mình. Tốt nhất, hãy chọn cho mình một miếng cau, têm một tí vôi vào lá trầu, rồi nhâm nhi độ nồng cay của vôi, của trầu, của miếng cau Chơi vơi tùy theo khẩu vị.
Khán phòng hôm đó không còn chỗ trống. Chắc là có nhiều người coi vé free như mình(?). Bất ngờ.
Không có đạo diễn hay đoàn làm phim đến. Thế là về sớm. Không có phần Q&A nhưng lên xe thì mọi người (5 tên) cũng có lời qua tiếng lại về Chơi vơi.
Đây là phim thuộc về thể loại cảm giác. Ngay cái tựa cũng đã nói lên cái gì rồi. Kiếm tìm cái gì khác trong phim này là điều không thể. Nên xem đạo diễn Bùi Thạc Chuyên đưa cảm giác chơi vơi lên phim ra sao.
Chơi vơi là một bộ phim không có cốt truyện, kịch bản của Chơi vơi (tác giả Phan Đăng Di) hoàn toàn không có mục đích kể câu chuyện với kiểu dẫn chuyện có mở đầu, có cao trào, gút thắt, nút mở... mà ta thường thấy. Chơi vơi chỉ là một lát cắt phản ánh đời sống xoay quanh 4 nhân vật chính, họ gặp phải tình trạng bế tắc, không lối thoát trong không gian đô thị chật hẹp mà bối cảnh chính là Hà nội.
Duyên, Cầm, Hải, Thổ. Tên gọi của 4 nhân vật- vốn được thể hiện trong phim nhiều nhất, theo tôi nghĩ, đều có ý nghĩa riêng theo chủ đích của tác giả kịch bản.
Duyên, có mối liên hệ với hầu hết các nhân vật khác trong phim. Duyên là vợ của Hải, là bạn của Cầm, là người đến với Thổ, gặp gỡ được cô bạn tình của Thổ, là người biết câu chuyện của ông bà nội. Sự gặp gỡ xảy ra tưởng như là tình cờ nhưng thực ra đó là một sự sắp đặt có "tính nhân duyên" đúng như tên gọi của chính nhân vật. Duyên tồn tại lơ lửng trong phim. Cô lấy Hải sau khi chỉ quen Hải được 3 tháng. Duyên lạc lõng trong mối quan hệ gia đình, không tìm thấy sự hòa điệu nên cô thường tìm đến Cầm. Rồi đánh đu thân phận của mình trong vòng tay của Thổ.
Cầm, nhà văn sống trong khung cảnh xa rời hiện thực. Luôn luôn có tâm trạng bế tắc, bất cần đời sống bên ngoài. Sự tồn tại của nhân vật này có thể là vô nghĩa với hiện thực, nhưng lại mang tính thiết yếu vì Cầm tạo nên những cung bậc, sắc âm trong mối liên hệ giữa Duyên và các nhân vật khác. Hờ hững với cuộc sống bên ngoài, mặc dù là đầu mối của những sợi dây quan hệ, nhưng chính Cầm lại không tìm được lối thoát ngoài việc vùi mình trong những trang viết đờ đẫn ở một không gian bó hẹp và u tối của căn nhà với mẹ cô.
Hải, vô tư hồn nhiên như nước mặc dù anh không còn là trẻ con. Hải chơi vơi vì xa sự chăm sóc của mẹ, dù đã lập gia đình. Anh lái taxi đi đón vợ, chở mái ấm gia đình của mình như công việc thường ngày anh vẫn làm là đưa và đón khách. Mở đầu bộ phim là cảnh Hải đưa vợ mới cưới vể tổ ấm mới của mình, và kết thúc bộ phim là Hải chờ đón Duyên, và Duyên vẫn ngồi phía sau như vị khách đi taxi với cảm giác chơi vơi trong thành phố lạ.
Thổ, một nhân vật được xây dựng có vẻ bí hiểm, một kẻ cơ hội được tồn tại rất phù hợp và cần thiết cho những người như Duyên, như Cầm hoặc cô tình nhân đã theo đuổi y trong sáu năm. Thổ là cơ hội tìm thấy sự thỏa mãn của Duyên, là nơi nhận những lá thư không hề được đọc của Cầm, là nơi bám víu không tương lai của một tình yêu không đáp trả. Thổ chính là bạn đồng hành của cảm giác chơi vơi, cần nơi bấu víu của phụ nữ.
Chơi vơi không chỉ là cảm giác riêng có ở bốn nhân vật có tên gọi trong phim, mà là một trạng thái chung của xã hội đối với những cư dân đang sống bị dồn nén trong một không gian đô thị bức bối, của một Hà nội chật hẹp mà trong phim mô tả. Người ta sống, ăn ở, chung đụng với trạng thái không có lối thoát đó xem như là sinh hoạt bình thường. Không mảy may tìm cách giải thoát tình trạng dật dờ đó. Mà ngược lại, chấp nhận sự hiện diện của chơi vơi như là một giải pháp tối ưu để không thấy cảm giác đó đang tồn tại.
Bà mẹ của Hải với đôi mắt thờ ơ nhìn con trai và bạn bè say bí tỉ trong tiệc rượu. Một đôi lời dặn dò qua loa làm hành trang cho cuộc hôn nhân của con mình.
Bà nội của Duyên vẫn nhẫn nhục săn sóc ông chồng già, bà thản nhiên không buồn không biết khi Duyên hỏi về những mối tình vụng trộm của ông khi thời trai trẻ.
Ông bố mê chọi gà, đứa bé gái mê tắm bồn, tay cờ bạc, hoặc mẹ của Cầm... tất cả vẫn miệt mài hít thở cái chông chênh, chơi vơi một cách thản nhiên như công việc mà họ vẫn làm thường ngày không có gì thay đổi.
Phim Chơi vơi là một lát cắt ngang, còn tui viết bài này như chẻ trái cau ra làm sáu. Mỗi người coi phim đều có cách nhận xét của riêng mình. Tốt nhất, hãy chọn cho mình một miếng cau, têm một tí vôi vào lá trầu, rồi nhâm nhi độ nồng cay của vôi, của trầu, của miếng cau Chơi vơi tùy theo khẩu vị.
Sunday, April 10, 2011
Sàigòn
1. Tối thứ Năm 07/Tháng Tư/2011, VIFF khai mạc và mình lại được tham dự. Trong khuôn viên tiền sảnh rạp Edward, thuộc campus của UCI, chật kín người. Liên hoan phim Việt, chiếu toàn phim Việt, và tất nhiên đến tham dự đa phần là người Việt. Vậy mà, hầu như mọi người ở đây gặp nhau cứ đốp cháp với nhau bằng tiếng Anh. Ngoại trừ một số người kém tiếng Anh như mình, và những cô bác phóng viên làm cho các đài, báo chí truyền thông Việt ngữ ở Nam Cali vì bắt buộc phải tường thuật lại bằng tiếng Việt.
Tất nhiên, VIFF được tổ chức ở Mỹ, chiếu tại rạp Mỹ nên nói tiếng Mỹ cũng phải. Nhưng chuyện xài tiếng Mỹ ở xứ Mỹ thì bình thường. Được dịp toàn Việt như VIFF thế này mà không-Việt thì mất đi cái thoải mái. Mất đi cái cơ hội xả láng của người Việt trong dịp liên hoan phim Việt.
2. Phim Saigon Yo của đạo diễn Stephan Gauger chiếu khai mạc cho tuần lễ VIFF. Coi phim mà nhớ Sài gòn quá chừng. Sài gòn tiếng còi xe honda, Sài gòn hẻm sâu hun hút của khu dân nghèo lao động. Sài gòn mưa. Sài gòn vỉa hè... Và đặc biệt là giọng Sài gòn. Lời thoại trong phim đúng chất bụi bặm Sài gòn.
Làm phim mà đưa bụi Sài gòn vào được thì đúng là thành công.
Mà cái anh đạo diễn Stephan nói tiếng Việt giọng Sài gòn thì ôi thôi, khỏi chê.
Có một cảnh quay trong phim, nhìn Sài gòn từ trên cao xuống thấy Sài gòn như một đống gạch.
Những viên gạch xây nên cái hoa lệ của Sài gòn.
Tất nhiên, VIFF được tổ chức ở Mỹ, chiếu tại rạp Mỹ nên nói tiếng Mỹ cũng phải. Nhưng chuyện xài tiếng Mỹ ở xứ Mỹ thì bình thường. Được dịp toàn Việt như VIFF thế này mà không-Việt thì mất đi cái thoải mái. Mất đi cái cơ hội xả láng của người Việt trong dịp liên hoan phim Việt.
2. Phim Saigon Yo của đạo diễn Stephan Gauger chiếu khai mạc cho tuần lễ VIFF. Coi phim mà nhớ Sài gòn quá chừng. Sài gòn tiếng còi xe honda, Sài gòn hẻm sâu hun hút của khu dân nghèo lao động. Sài gòn mưa. Sài gòn vỉa hè... Và đặc biệt là giọng Sài gòn. Lời thoại trong phim đúng chất bụi bặm Sài gòn.
Làm phim mà đưa bụi Sài gòn vào được thì đúng là thành công.
Mà cái anh đạo diễn Stephan nói tiếng Việt giọng Sài gòn thì ôi thôi, khỏi chê.
Có một cảnh quay trong phim, nhìn Sài gòn từ trên cao xuống thấy Sài gòn như một đống gạch.
Những viên gạch xây nên cái hoa lệ của Sài gòn.
Subscribe to:
Posts (Atom)
