Mẹ tôi mang họ Đặng, theo sự xếp đặt và cách gọi ở trong làng mà tôi thường được nghe về thứ bậc dòng họ là: Đặng - Phan - Lê - Võ. Đây là một trong những dòng họ lớn, bởi Thần hoàng Khai canh ra ngôi làng cũng mang họ Đặng. Vì vậy, bà con cháu chắt xa gần trong họ của Mẹ tôi rất đông. Thêm nữa, họ bên ngoại của Mẹ tôi lại là họ Phan, một họ đứng thứ nhì trong làng. Nên ngày Mẹ nằm xuống, bà con anh em lối xóm, cháu chắt của cả hai bên đến giúp công việc trong tang gia và phúng điếu cũng rất đông.
Mặc dù Ba Mẹ tôi tiếng là có con đông, cháu đàn. Nhưng thực sự chính những người lối xóm này đã cùng anh chị em trong nhà ở bên Mẹ tôi từ lúc Mẹ mới nhắm mắt cho đến ngày đưa tiễn. Cũng như họ đã từng giúp trong chuyện đại sự của Ba tôi cách đây bốn năm trước... Ơn nghĩa đó chưa được đáp đền, nay lại được thêm vun đắp. Việc quỳ lạy, nhị bái lạy trả của tất cả anh chị em cháu chắt trong gia đình trong suốt thời gian đám tang của Mẹ tôi chỉ mang tính tượng trưng đáp đền, chứ thực sự khó lòng trả nổi.
Sau lễ thành phục của gia đình. Lễ phát tang, phúng điếu dành cho bà con lối xóm và họ hàng thân ruột qua những ngày còn lại. Có những Cậu, những Dì tuổi đã cao. Mắt mờ, chân yếu, tay run, không quản ngại đường xa, đến phúng điếu rồi vái lạy trước linh cữu, quệt nước mắt và xin khăn để tang cho Mẹ khiến chúng tôi không khỏi động lòng. Đứng hầu chuyện với bà con. Anh chị em trong nhà chúng tôi nghe những chuyện kể về Mẹ qua những chuyện thưở hàn vi khốn khó. Từ chuyện chạy gạo nuôi con từng bữa đến những chuyện chạy loạn lúc đao binh. Bà con dù xa hoặc gần, vì tình làng nghĩa xóm mà tìm giúp đỡ nhau nơi xứ người, rồi lại cùng dắt díu nhau quay về quê hương bản quán.
Mẹ tôi là một người có tấm lòng độ lượng, hay thương người. Với sức chịu đựng, sự hy sinh, cùng nếp sống "một sự nhịn chín sự lành ", "người ta ăn còn, tụi con ăn thì hết" nên Mẹ ít khi làm mất lòng người lớn kẻ nhỏ. Mẹ sống trải ruột với mọi người.
- Tụi em nhớ O, anh chị thương cái tình của O. Lúc O cho mượn lon gạo, lúc O chợ về nhét cho bó rau. Chao ôi, cái tình của O không bao giờ quên được.
Vợ chồng anh chị Lân, gia đình trước đây ở lối xóm. Đi kinh tế mới trong những năm 80. Giờ con cái thành đạt, đôi vợ chồng già tìm về lại quê hương. Dựng lại căn nhà trên miếng vườn bỏ hoang bấy lâu nay. Khi đến viếng đám tang của Mẹ tôi mà chúng tôi thực tình không nhận ra là người quen biết. Chị đến khóc lạy bên quan tài của Mẹ rồi ngậm ngùi kể chuyện lúc đói nghèo O cho rổ sắn, O cho mớ khoai. Chợ về ngang nhà là nhớ O kêu: Ơi mợ Lân, ơi mợ Lân! Ra lấy gạo, lấy đồ ăn đem về cho mấy cháu...
Nghe tiếng chị kể mà tưởng như tiếng của Mẹ ở đâu đây? Anh chị em tôi quỳ lạy, mà tiếc thương Mẹ biết bao nhiêu. Không muốn khóc nhưng nước mắt cứ chảy dài. Nỗi nhớ niềm thương biết bao giờ vơi được?
Rồi những đứa cháu bà con của Mẹ ngồi kể chuyện trước đây. Nhờ hồi xưa O lo đám cưới, nhờ O chợ búa tính toán nấu ăn để đãi đằng khách khứa. Chút chi cũng nhờ O, chút chi cũng kêu O. Tụi con giờ yên bề gia thất đã lâu. Nay tìm đến thăm O khi O đã không còn, hỏi thăm O khi O đã xuôi tay, O nằm yên, O nhắm mắt...
Mẹ là một người soi rọi niềm thương.
Nay Mẹ đã ra đi. Để lại cho tụi con thấu hiểu cái giá trị của lòng nhân ái!
Ở trong làng tôi có một cái lệ hết sức nghĩa tình. Hễ trong làng nhà ai có tang thì mọi người góp gạo giúp cho nhà đám. Kẻ ít, người nhiều. Một bụm, nửa lon, một lon... dồn lại thành bao. Làng cử người vác đến phúng điếu giúp cho nhà đám. Cái lệ này do làng đặt ra. Xuất phát vào thời điểm những năm 78-80 khốn khó. Và cho đến lúc này vẫn tiếp tục duy trì. Thời cuộc có lúc đổi thay. Lòng dạ con người có thể đổi thay. Nhưng tình làng nghĩa xóm tương trợ cho nhau, có thể không ghi vào văn bản, hương ước của làng, nhưng chắc chắn không thể nào hủy bỏ.
Đám tang của Mẹ tôi được đưa đi sáng sớm. Thanh niên con cháu trong làng chung vai đến gánh đưa O, đưa Mụ ra đi. Nghĩa trang của làng là một ngọn đồi cao. Với quan niệm "sinh ký tử quy" nên mộ phần người quá cố được chôn cất ở nơi cao ráo để tránh những trận lụt hàng năm và cho con cháu trong làng tiện bề hương khói.
Tang lễ của Mẹ tôi để bao nhiêu ngày thì bà con làng xóm đến phúng viếng, thăm hỏi bấy nhiêu bữa. Ban ngày mọi người đến phúng điếu rồi quay ra đồng áng. Đêm về bà con vẫn ghé qua nhà đám để chuyện trò giúp tang gia bớt phần quạnh quẽ, và mong người quá cố cũng vơi bớt sự tủi vắng, cô đơn. Trong nhà chỉ có chén nước, điếu thuốc, miếng trầu là chút lễ mọn đối đãi cái tình làng nghĩa xóm bấy lâu nay. Ân tình đó thật là sâu đậm.
Anh em chúng tôi vẫn luôn nhớ lời Mẹ dặn. Mỗi khi trong nhà có phương việc gì, hãy lấy lễ nghĩa để đáp đền cái ân tình của làng trên xóm dưới. Cho dù có học rộng tài cao, đỗ đạt thành danh ở xứ nào. Nhưng khi về quê, về làng thì chỉ có lễ nghĩa mới là thước đo nền tảng gia đình, là cách thức dựng xây nhân cách.
Phải biết kính trên nhường dưới mới thể hiện được cái sự biết đúng đắn của mình.
Mâm cau trầu rượu có thể được xem là lễ vật quan trọng nhất trong đám tiệc hoặc phương việc đại sự của mọi gia đình VN. Một miếng cau, một chén rượu để thưa chuyện, trình làng. Nhấp một hớp rượu, nhai một miếng cau tức là hàm ý nhận sự thành tâm của gia đình theo nghĩa đầy cung kính. Mẹ tôi thường dặn dò kỹ lưỡng anh em chúng tôi cách hành xử đầy phép tắc lễ nghĩa với người trong làng là vậy.
Lúc sanh thời Mẹ là một người rộng lượng nhưng đầy nghiêm khắc. Nay Mẹ tôi mất đi để lại cái giá trị của lòng nhân và lễ nghĩa cho con cháu học theo.
Lễ thất tuần của Mẹ. Bốn mươi chín ngày đã qua. Linh hồn sẽ siêu thoát. Hình bóng sẽ nhạt nhòa. Nhưng giá trị về đời sống của Mẹ vẫn còn mãi đó.
Nhớ Mẹ vô cùng!
Kính lạy.
Showing posts with label Gia đình. Show all posts
Showing posts with label Gia đình. Show all posts
Saturday, April 21, 2012
Thursday, April 5, 2012
Cảm tạ
Kính thưa quý vị,
Thay mặt 8 anh chị em, cùng tất cả con, cháu, chắt Nội Ngoại trong gia đình, tôi xin gởi lời chân thành cảm ơn đến các bạn hữu xa gần, các anh chị em và quý bạn đọc blog ở khắp nơi... đã gửi lời thăm hỏi, an ủi chia buồn, lễ vật phúng giúp, điếu thăm... trong việc ma chay - chuyện đại sự trong tháng vừa qua của Mẹ Gác Xép.
Mong mọi người niệm tình tha thứ, và nhận lời cảm tạ chậm trễ này.
Gác Xép và các anh chị em cùng con, cháu, chắt Nội Ngoại trong tang quyến xin được ghi nhớ những tấm lòng quý báu, những tình cảm đầy ân tình... của quý vị giành cho đại gia đình của Gác Xép.
Nhị bái,
Thành kính tri ân.
Thay mặt 8 anh chị em, cùng tất cả con, cháu, chắt Nội Ngoại trong gia đình, tôi xin gởi lời chân thành cảm ơn đến các bạn hữu xa gần, các anh chị em và quý bạn đọc blog ở khắp nơi... đã gửi lời thăm hỏi, an ủi chia buồn, lễ vật phúng giúp, điếu thăm... trong việc ma chay - chuyện đại sự trong tháng vừa qua của Mẹ Gác Xép.
Mong mọi người niệm tình tha thứ, và nhận lời cảm tạ chậm trễ này.
Gác Xép và các anh chị em cùng con, cháu, chắt Nội Ngoại trong tang quyến xin được ghi nhớ những tấm lòng quý báu, những tình cảm đầy ân tình... của quý vị giành cho đại gia đình của Gác Xép.
Nhị bái,
Thành kính tri ân.
Saturday, January 21, 2012
Lành tính
Đó là niềm hy vọng duy nhất còn lại của anh chị em chúng tôi khi chờ kết quả sinh thiết (biofsy) từ bệnh viện. Đó là từ đẹp nhất mà tôi nghe được từ ông anh khi điện thoại về hỏi thăm chờ kết luận của cả 10 ngày nay.
Tin tốt nhất và vui nhất trong cái Tết này. Năm nay ở nhà Tết vui. Đông người. Vui khôn xiết!
Ông anh cho biết: Kết luận từ bác sĩ phòng CT, siêu âm. U lớn, 2,5cm. K - cần phải mổ diện rộng. Kết luận từ biofsy: Lành tính. Cần chăm sóc đặc biệt để tránh đột biến và bộc phát của bệnh. Bác sĩ nói: Mấy em đưa Mệ lên và yên tâm ăn Tết. Vui đi.
Có người bạn giới thiệu đi Quảng Trị bốc thuốc Nam về sắc cho Mệ uống. Vậy là quá mừng!
Cảm ơn Trời Phật đã cho gia đình con qua được nỗi tai ương kinh hoàng này. Kính cẩn cầu nguyện.
Cảm ơn tình cảm của tất cả bạn bè, những người quen biết gần xa đã chia sẻ và cầu chúc bình an sức khỏe cho Mạ tôi một cách hết sức chân thành.
Hung tin đã qua.
Xuân tươi lại đến.
Tết vui.
Ân sâu ghi nhớ!
Tất niên blog bằng một cái tin rất lành, rất rất vui.
Chúc mừng năm mới Nhâm Thìn nhiều An khang và thật Thịnh vượng đến với mọi người và mọi nhà!
(Hình này chụp trong dịp đám giỗ Ba tôi, khi Mạ tôi còn khỏe.)
Tin tốt nhất và vui nhất trong cái Tết này. Năm nay ở nhà Tết vui. Đông người. Vui khôn xiết!
Ông anh cho biết: Kết luận từ bác sĩ phòng CT, siêu âm. U lớn, 2,5cm. K - cần phải mổ diện rộng. Kết luận từ biofsy: Lành tính. Cần chăm sóc đặc biệt để tránh đột biến và bộc phát của bệnh. Bác sĩ nói: Mấy em đưa Mệ lên và yên tâm ăn Tết. Vui đi.
Có người bạn giới thiệu đi Quảng Trị bốc thuốc Nam về sắc cho Mệ uống. Vậy là quá mừng!
Cảm ơn Trời Phật đã cho gia đình con qua được nỗi tai ương kinh hoàng này. Kính cẩn cầu nguyện.
Cảm ơn tình cảm của tất cả bạn bè, những người quen biết gần xa đã chia sẻ và cầu chúc bình an sức khỏe cho Mạ tôi một cách hết sức chân thành.
Hung tin đã qua.
Xuân tươi lại đến.
Tết vui.
Ân sâu ghi nhớ!
Tất niên blog bằng một cái tin rất lành, rất rất vui.
Chúc mừng năm mới Nhâm Thìn nhiều An khang và thật Thịnh vượng đến với mọi người và mọi nhà!
(Hình này chụp trong dịp đám giỗ Ba tôi, khi Mạ tôi còn khỏe.)
![]() |
| Mạ và Dì Nhạn |
![]() |
| Bà và Cháu Chủ Nhật |
Tuesday, January 10, 2012
Đường xa vạn dặm
Bà già nhập viện. Tình hình sức khỏe ổn lại rồi. Ông anh - bà chị nói vậy, thì nghe vậy.
Hôm đầu tuần đi làm. Bốc phôn gọi về nhà hỏi chuyện tết nhứt. Nghe giọng thằng em. Quái lạ! Mới có mười mấy tháng Chạp. Lẽ ra nó đang ở SG, thời điểm làm ăn, buôn bán cuối năm, bỗng nhiên về Huế làm chi sớm vậy? Hỏi. Nó ú ớ: Thì Mạ nói về sớm để lo chuyện tết nhứt. Vậy Mạ đâu? Đưa phôn cho Mạ nói chuyện. Mạ ngủ rồi. Nghĩ trong bụng, bình thường hay gọi là giờ này bà già đang coi TV mà. Rồi nó nói trớ qua chuyện khác. Hỏi chuyện tết nhứt Cali, Calơ.. Thấy nó lơ lơ. Thôi. Cúp phôn Út nghe.
Bấm số gọi bà chị. Đứa cháu gái nghe phôn. Thấy cũng hơi khang khác. Mọi ngày là nghe giọng bà chị a lô. Vì cái phôn thường để sát cái bàn máy may, nơi bà chị hay ngồi đơm khuy, làm nút. Và biết giờ này đứa em lái xe đi làm là hay gọi nói chuyện với chị trên trời dưới đất.
Hỏi đứa cháu năm điều ba chuyện. Mẹ Bê của con đâu? Cậu nói chuyện chút. Dạ, đang ở trên bệnh viện. Chuyện chi vậy? Ngoại nhập viện. Cái gì? Cậu mới nói chuyện bữa hôm thứ Sáu tuần rồi mà. Dạ. Con cũng không biết. Có cả mấy cậu về nữa. Tất cả đang lúm úm ở bệnh viện. Con cũng đang lo. Có gì cậu gọi lại sáng mai đi. Được rồi.
Đứng làm mà trong bụng cứ như bấn ra. Một lúc kéo về 4 tên như vậy là không phải chuyện đùa. Rồi. Sợ.
Lý do: Bà già bị tụt huyết áp. Cơ thể yếu quá. Không đủ sức chống lại cái lạnh của mùa Đông.
Nguyên nhân: Ăn uống kiêng khem. Bác sĩ mắng: Ai nuôi Mệ mà để như vậy?
Bà già. Một tháng ăn chay hết 15 ngày. Những ngày còn lại thì không muốn đụng vào cá thịt. Tại sao vậy? Mạ coi TV thấy người ta nói về bệnh Gút (Gout). Bệnh của thời đại. Mạ thấy Mạ yếu chân, đi lại khó khăn, không tập được thể dục. Nên ăn uống kiêng cữ để phòng bệnh.
Ông anh đế vô: Mạ coi TV rồi thành bác sĩ. Tự chữa bệnh cho mình ha? Thôi, nằm đó nghe lệnh của bác sĩ. Sau khi chuyền đạm, chuyền huyết thanh, thấy khỏe trong người thì về nhà ăn Tết.
Mạ lúc trẻ thì tảo tần lo chuyện gia đình, làm dâu, lo cho chồng, nuôi nấng con cái. Đến khi lớn tuổi thì thân già vẫn hy sinh. Lại tiếp tục ăn chay để cầu an cho con cháu, cho gia đình. Không muốn phiền đến con cháu. Tự mình biết chế ngự thân yếu, tự khống chế lại bệnh tật. Khổ cái thân già.
Mẹ già như chuối chín cây. Chuối thường rụng mỗi khi trời trở lạnh. Lởn vởn trong đầu cái chuyện của ông ba cũng vào những tháng ngày giá rét như thế này. Rồi nhớ đến câu hát mà mình đã từng nghe. Và thầm mong.
Cho dẫu, đường xa vạn dặm. Mẹ đừng bỏ con đi.
Hôm đầu tuần đi làm. Bốc phôn gọi về nhà hỏi chuyện tết nhứt. Nghe giọng thằng em. Quái lạ! Mới có mười mấy tháng Chạp. Lẽ ra nó đang ở SG, thời điểm làm ăn, buôn bán cuối năm, bỗng nhiên về Huế làm chi sớm vậy? Hỏi. Nó ú ớ: Thì Mạ nói về sớm để lo chuyện tết nhứt. Vậy Mạ đâu? Đưa phôn cho Mạ nói chuyện. Mạ ngủ rồi. Nghĩ trong bụng, bình thường hay gọi là giờ này bà già đang coi TV mà. Rồi nó nói trớ qua chuyện khác. Hỏi chuyện tết nhứt Cali, Calơ.. Thấy nó lơ lơ. Thôi. Cúp phôn Út nghe.
Bấm số gọi bà chị. Đứa cháu gái nghe phôn. Thấy cũng hơi khang khác. Mọi ngày là nghe giọng bà chị a lô. Vì cái phôn thường để sát cái bàn máy may, nơi bà chị hay ngồi đơm khuy, làm nút. Và biết giờ này đứa em lái xe đi làm là hay gọi nói chuyện với chị trên trời dưới đất.
Hỏi đứa cháu năm điều ba chuyện. Mẹ Bê của con đâu? Cậu nói chuyện chút. Dạ, đang ở trên bệnh viện. Chuyện chi vậy? Ngoại nhập viện. Cái gì? Cậu mới nói chuyện bữa hôm thứ Sáu tuần rồi mà. Dạ. Con cũng không biết. Có cả mấy cậu về nữa. Tất cả đang lúm úm ở bệnh viện. Con cũng đang lo. Có gì cậu gọi lại sáng mai đi. Được rồi.
Đứng làm mà trong bụng cứ như bấn ra. Một lúc kéo về 4 tên như vậy là không phải chuyện đùa. Rồi. Sợ.
Lý do: Bà già bị tụt huyết áp. Cơ thể yếu quá. Không đủ sức chống lại cái lạnh của mùa Đông.
Nguyên nhân: Ăn uống kiêng khem. Bác sĩ mắng: Ai nuôi Mệ mà để như vậy?
Bà già. Một tháng ăn chay hết 15 ngày. Những ngày còn lại thì không muốn đụng vào cá thịt. Tại sao vậy? Mạ coi TV thấy người ta nói về bệnh Gút (Gout). Bệnh của thời đại. Mạ thấy Mạ yếu chân, đi lại khó khăn, không tập được thể dục. Nên ăn uống kiêng cữ để phòng bệnh.
Ông anh đế vô: Mạ coi TV rồi thành bác sĩ. Tự chữa bệnh cho mình ha? Thôi, nằm đó nghe lệnh của bác sĩ. Sau khi chuyền đạm, chuyền huyết thanh, thấy khỏe trong người thì về nhà ăn Tết.
Mạ lúc trẻ thì tảo tần lo chuyện gia đình, làm dâu, lo cho chồng, nuôi nấng con cái. Đến khi lớn tuổi thì thân già vẫn hy sinh. Lại tiếp tục ăn chay để cầu an cho con cháu, cho gia đình. Không muốn phiền đến con cháu. Tự mình biết chế ngự thân yếu, tự khống chế lại bệnh tật. Khổ cái thân già.
Mẹ già như chuối chín cây. Chuối thường rụng mỗi khi trời trở lạnh. Lởn vởn trong đầu cái chuyện của ông ba cũng vào những tháng ngày giá rét như thế này. Rồi nhớ đến câu hát mà mình đã từng nghe. Và thầm mong.
Cho dẫu, đường xa vạn dặm. Mẹ đừng bỏ con đi.
Sunday, December 4, 2011
Kỷ vật của Ba
Hôm nay ở VN là thứ Hai. Ngày 11 tháng 11 ÂL, ngày giỗ của Ba.
Những đứa con của Ba. Đứa vì hoàn cảnh sống khó khăn, đứa vì công việc, đứa vì ở quá xa xôi.. đã không tề tựu về đông đủ để thắp cho Ba nén nhang. Sau ba năm đại hạn tang chế.
Nhưng không vì vậy mà mang tiếng bất hiếu. Tất cả đều đang hướng về nhà. Những đứa con có mặt ở nhà hôm nay, đã thay thế cho những đứa vắng mặt, đem tình cảm của tất cả 8 đứa con về bên Ba với niềm nhớ thương đầy tôn kính.
Rồi bạn bè của con cái, người gửi chai rượu, đứa gởi gói bánh, người gửi lời thăm hỏi... dâng cúng trong ngày hôm nay. Tình cảm quý hóa vô cùng. Cảm ơn tấm thịnh tình của bạn bè.
Hôm nay mình ở đây. Mang nỗi bùi ngùi nhớ về ông Ba nhưng không quá buồn lòng. Tuy xa xôi cách trở, nhưng cố tìm một điều gần gũi. Lần giở những tấm ảnh về kỷ vật của ông Ba. Nhìn và nhớ. Nhớ rồi tiếc. Tiếc vì đã chưa làm gì. Thì Ba đã đi thật xa.
Chỉ có vậy thôi.
Ba năm mãn tang. Thời gian ngắn của tiếc thương sẽ chóng hết. Thời gian dài của nhớ thì vẫn mãi mãi tiếp tục dài.
Siêu linh tịnh độ.
Cúi lạy.
Những đứa con của Ba. Đứa vì hoàn cảnh sống khó khăn, đứa vì công việc, đứa vì ở quá xa xôi.. đã không tề tựu về đông đủ để thắp cho Ba nén nhang. Sau ba năm đại hạn tang chế.
Nhưng không vì vậy mà mang tiếng bất hiếu. Tất cả đều đang hướng về nhà. Những đứa con có mặt ở nhà hôm nay, đã thay thế cho những đứa vắng mặt, đem tình cảm của tất cả 8 đứa con về bên Ba với niềm nhớ thương đầy tôn kính.
Rồi bạn bè của con cái, người gửi chai rượu, đứa gởi gói bánh, người gửi lời thăm hỏi... dâng cúng trong ngày hôm nay. Tình cảm quý hóa vô cùng. Cảm ơn tấm thịnh tình của bạn bè.
Hôm nay mình ở đây. Mang nỗi bùi ngùi nhớ về ông Ba nhưng không quá buồn lòng. Tuy xa xôi cách trở, nhưng cố tìm một điều gần gũi. Lần giở những tấm ảnh về kỷ vật của ông Ba. Nhìn và nhớ. Nhớ rồi tiếc. Tiếc vì đã chưa làm gì. Thì Ba đã đi thật xa.
![]() |
| Bàn máy may hiệu Singer- đạp xoành xoạch suốt cuộc đời |
![]() |
| Xe đạp lỏn tỏn ngày hai cuốc lên làng về phố |
![]() |
| Giày và dép. Số 49. Đôi bàn chân dài đã đến lúc nghỉ ngơi |
![]() |
| Cái phản này cha và con thường nằm nghe đài khuya |
![]() |
| Chiếc mũ phớt. Gọng kính gỉ sét và cái radio nghe xổ số, nghe đài khuya |
![]() |
| Đồ chơi, hàng điện tử yêu thích của ông già |
![]() |
| Chiếc xe đạp điện mới xài được một vài tháng |
Chỉ có vậy thôi.
Ba năm mãn tang. Thời gian ngắn của tiếc thương sẽ chóng hết. Thời gian dài của nhớ thì vẫn mãi mãi tiếp tục dài.
Siêu linh tịnh độ.
Cúi lạy.
Friday, November 11, 2011
Số con chó
Là số 11. Theo dân chơi lô đề. Ngày hôm nay trên tờ lịch có một loạt số 11.11.11. Nếu mình ở VN thì mình sẽ đi mua số đề. Bao lô Thượng- Trung- Hạ, đánh luôn cả số đầu, chơi luôn cả số đuôi. Hay còn gọi là bao 18 lô - nếu đánh hai con. Tất nhiên là số 11. Số con chó!
Sáng nay đi làm, gọi về nhà. Nếu ông già còn sống thế nào cũng nói ổng mua số đề.
Ông già thích mua số đề và cũng thường hay mua vé số.
Ngày nào cũng có xổ số. Liên tỉnh miền Trung từ Quảng Bình vô tới Khánh Hòa. Một tuần đủ 7 ngày là ổng "nghiên cứu" đủ bảy đài.
Buổi sáng ngủ dậy, con cháu đứa nào có nằm mơ thấy gì là kể ra để ổng nghiệm số.
Buổi tối đến giờ xổ số thì cái TV là của ổng. Lúi húi ghi ghi chép chép xong rồi dò dò. Sau 5 phút, ổng nhường TV lại cho cả nhà. Một ngày kết thúc của ông ba. Mình ngó qua. Ổng cười cười: Không ra chi!
Nhớ có một lần, lúc đó ở trên quê chưa có điện, chưa có TV. Chỉ nghe đọc kết quả xổ số qua radio. Ông ba chép lại rồi đem vé số ra dò. Bất ngờ, ổng ngoắc mình lại rồi chìa tấm vé số nói run run. Tao trúng an ủi. Tiếc quá!
Mình không nhớ giải an ủi hồi đó là bao nhiêu. Nhưng nhớ cứ mỗi lần vô số đề hay số kiến thiết là ông ba mua đồ ăn ngon ở tiệm dưới phố lên đãi cả nhà. Đôi khi ổng còn mua cả rượu cho mấy thằng con trai uống nữa.
Mỗi lần vô mánh lẻ thì các ông thường giấu các bà. Ông ba mình cũng vậy. Nhưng giấu làm sao được? Hôm nào thấy ông già xách đồ ăn ngon về là bà già nhắn hỏi: Ba mi trúng số đó hỉ?
Sáng nay đi làm, gọi về nhà. Nếu ông già còn sống thế nào cũng nói ổng mua số đề.
Ông già thích mua số đề và cũng thường hay mua vé số.
Ngày nào cũng có xổ số. Liên tỉnh miền Trung từ Quảng Bình vô tới Khánh Hòa. Một tuần đủ 7 ngày là ổng "nghiên cứu" đủ bảy đài.
Buổi sáng ngủ dậy, con cháu đứa nào có nằm mơ thấy gì là kể ra để ổng nghiệm số.
Buổi tối đến giờ xổ số thì cái TV là của ổng. Lúi húi ghi ghi chép chép xong rồi dò dò. Sau 5 phút, ổng nhường TV lại cho cả nhà. Một ngày kết thúc của ông ba. Mình ngó qua. Ổng cười cười: Không ra chi!
Nhớ có một lần, lúc đó ở trên quê chưa có điện, chưa có TV. Chỉ nghe đọc kết quả xổ số qua radio. Ông ba chép lại rồi đem vé số ra dò. Bất ngờ, ổng ngoắc mình lại rồi chìa tấm vé số nói run run. Tao trúng an ủi. Tiếc quá!
Mình không nhớ giải an ủi hồi đó là bao nhiêu. Nhưng nhớ cứ mỗi lần vô số đề hay số kiến thiết là ông ba mua đồ ăn ngon ở tiệm dưới phố lên đãi cả nhà. Đôi khi ổng còn mua cả rượu cho mấy thằng con trai uống nữa.
Mỗi lần vô mánh lẻ thì các ông thường giấu các bà. Ông ba mình cũng vậy. Nhưng giấu làm sao được? Hôm nào thấy ông già xách đồ ăn ngon về là bà già nhắn hỏi: Ba mi trúng số đó hỉ?
Tuesday, August 9, 2011
Mâm cơm của Mẹ tôi
Tôi có nhiều bạn bè ở các vùng miền. Bạn bè tôi thường hỏi câu này: Mấy bà già người Huế khó chịu lắm phải không? Ai về làm dâu mấy bà già Huế chắc là chua lắm? Trong câu hỏi đã có chứa câu trả lời. Gặp những câu hỏi như vậy tôi thường nói: Ồ, chuyện đó cũng tùy thôi. Có người thế này, có người thế kia. Với lại, đâu phải riêng chi Huế, mà bà già của mấy vùng khác cũng vậy.
Nhớ có một lần, ông anh tôi đi dạy ở Daklak về nghỉ hè. Và có đưa vợ chồng người bạn về thăm nhà. Mẹ tôi làm cơm đãi khách. Anh em chúng tôi phụ giúp bà già dọn cơm. Trời mùa hè ở Huế thường rất nóng, chúng tôi trải chiếu ở dưới sàn, dọn cơm ra giữa nhà, cả chủ lẫn khách đều cảm thấy thoải mái mà không hề câu nệ. Mẹ tôi nấu ăn ở dưới bếp, thi thoảng vẫn thường ghé lên nhà trên kiểm tra chúng tôi bày biện ra sao. Bất ngờ, bà già khều nhẹ ông anh xuống bếp nói nhỏ:
- Mặc dù là bạn của con, nhưng vẫn là khách của nhà mình. Hơn nữa, tụi con là thầy giáo thì cái chuyện ăn uống cần phải tươm tất và đàng hoàng một chút. Dọn cơm như vậy là phải có cái mâm.
Nghe vậy, chúng tôi lật đật chạy đi lấy cái mâm và xếp lại mấy dĩa thức ăn cho ngay ngắn.
Tôi không biết đôi vợ chồng bạn của ông anh có nghe được những lời mẹ tôi nói hay không. Nhưng khi thấy chúng tôi sắp xếp lại mâm cơm thì chắc thể nào họ cũng hiểu.
Mấy chuyến hè lần sau về thăm nhà, tôi được nghe ông anh kể lại. Chị vợ của anh bạn, từ đó về sau, luôn sử dụng cái mâm để dọn cơm cho chồng.
Mùa Vu lan đến rồi. Nhớ về bà già bằng một câu chuyện nhỏ.
Nhớ có một lần, ông anh tôi đi dạy ở Daklak về nghỉ hè. Và có đưa vợ chồng người bạn về thăm nhà. Mẹ tôi làm cơm đãi khách. Anh em chúng tôi phụ giúp bà già dọn cơm. Trời mùa hè ở Huế thường rất nóng, chúng tôi trải chiếu ở dưới sàn, dọn cơm ra giữa nhà, cả chủ lẫn khách đều cảm thấy thoải mái mà không hề câu nệ. Mẹ tôi nấu ăn ở dưới bếp, thi thoảng vẫn thường ghé lên nhà trên kiểm tra chúng tôi bày biện ra sao. Bất ngờ, bà già khều nhẹ ông anh xuống bếp nói nhỏ:
- Mặc dù là bạn của con, nhưng vẫn là khách của nhà mình. Hơn nữa, tụi con là thầy giáo thì cái chuyện ăn uống cần phải tươm tất và đàng hoàng một chút. Dọn cơm như vậy là phải có cái mâm.
Nghe vậy, chúng tôi lật đật chạy đi lấy cái mâm và xếp lại mấy dĩa thức ăn cho ngay ngắn.
Tôi không biết đôi vợ chồng bạn của ông anh có nghe được những lời mẹ tôi nói hay không. Nhưng khi thấy chúng tôi sắp xếp lại mâm cơm thì chắc thể nào họ cũng hiểu.
Mấy chuyến hè lần sau về thăm nhà, tôi được nghe ông anh kể lại. Chị vợ của anh bạn, từ đó về sau, luôn sử dụng cái mâm để dọn cơm cho chồng.
Mùa Vu lan đến rồi. Nhớ về bà già bằng một câu chuyện nhỏ.
Wednesday, July 13, 2011
Bà Nội
Gia đình tôi có hai bà Nội. Bà Nội hiện tại vẫn còn mạnh, đang sống chung với gia đình chú Em. Anh em chúng tôi luôn thường xem đây là bà Nội chính thức của gia đình. Và gọi bà là Mệ. Lúc còn nhỏ chúng tôi rất sợ Mệ la mỗi khi làm điều gì sai. Lớn lên sau này vẫn luôn kính trọng Mệ và vẫn thường vấn an, thăm hỏi Mệ mỗi khi gọi điện thoại, hoặc có dịp về quê đều ghé thăm nhà ông Nội. Cầu Trời Phật phù hộ cho Mệ khỏe, sống lâu với con cháu.
Một bà Nội khác của gia đình chúng tôi, bà là vợ trước của ông Nội. Mẹ ruột của Ba tôi. Người, mà anh chị em chúng tôi không bao giờ biết mặt, nhưng trong tâm khảm chúng tôi vẫn luôn nghĩ về bà. Luôn tưởng gọi về bà một cách thân thiết, và gọi tên bà là bà Nội.
Mặc dù đã có với bà Nội hai đứa con, ông Nội vẫn có thêm bà hai. Vì vậy, bà Nội lặng lẽ ra đi để lại ba tôi và một chú, em-của-ba tôi, cho ông Nội nuôi. Lúc đó ba tôi được 10 tuổi. Ba tôi và chú ở với ông Nội và Mợ (cách xưng hô của ba tôi với Mệ). Chú sau này cũng mất sớm nên ba tôi chỉ có một mình. Và ba tôi hoàn toàn không có tin tức hay liên lạc gì với bà Nội từ ngày xa cách đó. Chúng tôi chỉ biết về bà Nội bằng những lời sơ lược qua kí ức của ba tôi kể lại: bà Nội là người ở trong thành (thành nội Huế), sau khi ông Nội có bà hai thì bà Nội về lại quê nhà, nghe nói sau này bà Nội tái giá, lấy chồng ở đâu trong tận Bình Định - Quy Nhơn. Chỉ vậy thôi.
Với cuộc sống sau này có vợ, có con, ham lo mưu sinh. Ba tôi càng không biết tin gì về bà Nội nữa. Nhiều lần ba tôi cũng muốn tìm bà Nội nhưng gia đình vợ con nheo nhóc khiến cho ông không có lúc thảnh thơi để nghĩ đến. Rồi khi điều kiện sống thay đổi, đi lại khó khăn hơn, thời gian làm cho lòng người xa cách nhau hơn.
Dù vậy, ba tôi vẫn luôn nghĩ về bà Nội. Sau những năm ông Nội mất, ba tôi đồ chừng bà Nội cũng già và cũng không còn sống nữa. Thời gian về sau này, ba tôi chọn ngày Rằm tháng Bảy (âm lịch) hàng năm để kỵ nhớ ngày của bà Nội.
Rồi ba tôi mất đi, hình ảnh về bà Nội có thể cũng sẽ nhạt nhòa ở trong ông. Và nếu còn, thì có lẽ chỉ là hình ảnh về một bà mẹ buồn, đau rứt ruột khi phải xa lìa con thơ. Hình ảnh về bà Nội của anh chị em chúng tôi chỉ có vậy trong ký ức của một cậu bé 10 tuổi .
Khi biết chuyện về bà Nội chỉ có vậy. Tôi cũng có ý nghĩ sẽ đi tìm bà Nội cho ba tôi nếu có cơ hội và điều kiện. Và một điều lạ ở trong tôi, một cách thực lòng mà nói: từ chuyện bà Nội, sau này sống xa nhà, mỗi khi quen biết ai, tôi luôn có cảm tình đặc biệt với người nào có quê quán, gốc gác là Quy Nhơn Bình Định.
Vì tôi nghĩ đơn giản rằng: Biết đâu? Biết đâu người đó là con, là cháu của bà Nội (?) Người Bình Định Quy Nhơn đó, nhiều khi là bà con, là có một phần máu thịt với gia đình mình không chừng!
Bây giờ ba tôi mất đi. Nhưng tôi biết trong nỗi lòng của ông vẫn đau đáu một mong mỏi là tìm bà Nội.
Và anh chị em tôi cũng vậy, cũng mong muốn tìm được bà Nội. Được thấy được di ảnh của bà. Được đứng trước mộ của bà, được thắp một nén nhang, thay thế cho ba tôi, để quỳ lạy tạ ơn sinh thành của bà Nội.
Nhờ bà Nội mà có được ba tôi, rồi có được anh chị em chúng tôi hôm nay. Trước là quỳ lạy tạ ơn sinh thành của bà, sau nữa là xin quỳ lạy để sám hối bởi cái sự xa cách ngàn trời mà anh chị em chúng tôi đã để cho thời gian làm cho ray rứt mãi.
Bà Nội với ba tôi, với anh chị em chúng tôi, là những người có duyên khởi sự với nhau, nhưng ngã phận bọt bèo đã làm cho chúng tôi, ba tôi cùng với bà Nội trở nên xa ngái.
Hôm qua, khi tôi gọi điện thoại về thăm bà chị. Bà chị báo cho tôi một tin bất ngờ, ông anh của tôi ở Daklak đã có những thông tin để có thể đi tìm bà Nội.
Theo lời bà chị tôi kể là có người giới thiệu cho ông anh tôi một người Thầy chuyên tìm mộ người đã mất. Không biết trời xui đất khiến thế nào, hay chỉ là một sự ngẫu nhiên khó lý giải... Chỉ một vài dòng hết sức sơ lược về bà Nội như trên, mà ông Thầy đã cho ông anh tôi những thông tin về bà Nội, đã không còn, nhưng hiện tại có con, có cháu của bà Nội ở Bình Định Quy Nhơn. Mặc dù chưa rõ thực hư nhưng bà chị và ông anh tôi vẫn khấp khởi mừng thầm. Hy vọng thời gian sắp tới đây ông anh tôi sẽ về Bình Định, Quy Nhơn, tìm đến cái địa điểm qua lời mô tả của ông Thầy, để tìm bà Nội và nhận người bà con ruột rà thân thuộc.
Không biết mọi người nghĩ sao, nhưng với tôi, tôi nghĩ rằng có một thế giới khác sống ngoài mình. Đó là thế giới của tâm linh.
Tôi nghĩ rằng, có thể sau khi ba tôi mất đi, ở thế giới hoàn toàn khác với dương thế hiện hành, ông đã tìm gặp được bà Nội và có thể đó là một sự đưa đẩy ông anh tôi tìm được ông Thầy, đặc biệt hơn là đã giúp cho ông Thầy có những thông tin về bà Nội, về người bà con đầy lý thú.
Tôi tưởng tượng rằng, ba tôi và bà Nội gặp nhau chắc là cảm động. Một sự gặp gỡ của tủi của hờn. Sự giận, sự thương có thể xảy ra nhưng trong đó, niềm mừng rỡ giữa mẹ và con trong hạnh ngộ trùng phùng là điều chắc chắn.
Rồi tôi cũng đang tưởng tượng về sự gặp gỡ giữa anh chị em tôi với những người bà con ở Bình Định Quy Nhơn. Sự gặp gỡ ban đầu có thể có những lạ lẫm, ngại ngùng. Nhưng tôi tin rằng sự thân thiết sẽ dễ dàng xảy ra khi biết rằng "một giọt máu đào hơn ao nước lã".
Hy vọng!
Một bà Nội khác của gia đình chúng tôi, bà là vợ trước của ông Nội. Mẹ ruột của Ba tôi. Người, mà anh chị em chúng tôi không bao giờ biết mặt, nhưng trong tâm khảm chúng tôi vẫn luôn nghĩ về bà. Luôn tưởng gọi về bà một cách thân thiết, và gọi tên bà là bà Nội.
Mặc dù đã có với bà Nội hai đứa con, ông Nội vẫn có thêm bà hai. Vì vậy, bà Nội lặng lẽ ra đi để lại ba tôi và một chú, em-của-ba tôi, cho ông Nội nuôi. Lúc đó ba tôi được 10 tuổi. Ba tôi và chú ở với ông Nội và Mợ (cách xưng hô của ba tôi với Mệ). Chú sau này cũng mất sớm nên ba tôi chỉ có một mình. Và ba tôi hoàn toàn không có tin tức hay liên lạc gì với bà Nội từ ngày xa cách đó. Chúng tôi chỉ biết về bà Nội bằng những lời sơ lược qua kí ức của ba tôi kể lại: bà Nội là người ở trong thành (thành nội Huế), sau khi ông Nội có bà hai thì bà Nội về lại quê nhà, nghe nói sau này bà Nội tái giá, lấy chồng ở đâu trong tận Bình Định - Quy Nhơn. Chỉ vậy thôi.
Với cuộc sống sau này có vợ, có con, ham lo mưu sinh. Ba tôi càng không biết tin gì về bà Nội nữa. Nhiều lần ba tôi cũng muốn tìm bà Nội nhưng gia đình vợ con nheo nhóc khiến cho ông không có lúc thảnh thơi để nghĩ đến. Rồi khi điều kiện sống thay đổi, đi lại khó khăn hơn, thời gian làm cho lòng người xa cách nhau hơn.
Dù vậy, ba tôi vẫn luôn nghĩ về bà Nội. Sau những năm ông Nội mất, ba tôi đồ chừng bà Nội cũng già và cũng không còn sống nữa. Thời gian về sau này, ba tôi chọn ngày Rằm tháng Bảy (âm lịch) hàng năm để kỵ nhớ ngày của bà Nội.
Rồi ba tôi mất đi, hình ảnh về bà Nội có thể cũng sẽ nhạt nhòa ở trong ông. Và nếu còn, thì có lẽ chỉ là hình ảnh về một bà mẹ buồn, đau rứt ruột khi phải xa lìa con thơ. Hình ảnh về bà Nội của anh chị em chúng tôi chỉ có vậy trong ký ức của một cậu bé 10 tuổi .
Khi biết chuyện về bà Nội chỉ có vậy. Tôi cũng có ý nghĩ sẽ đi tìm bà Nội cho ba tôi nếu có cơ hội và điều kiện. Và một điều lạ ở trong tôi, một cách thực lòng mà nói: từ chuyện bà Nội, sau này sống xa nhà, mỗi khi quen biết ai, tôi luôn có cảm tình đặc biệt với người nào có quê quán, gốc gác là Quy Nhơn Bình Định.
Vì tôi nghĩ đơn giản rằng: Biết đâu? Biết đâu người đó là con, là cháu của bà Nội (?) Người Bình Định Quy Nhơn đó, nhiều khi là bà con, là có một phần máu thịt với gia đình mình không chừng!
Bây giờ ba tôi mất đi. Nhưng tôi biết trong nỗi lòng của ông vẫn đau đáu một mong mỏi là tìm bà Nội.
Và anh chị em tôi cũng vậy, cũng mong muốn tìm được bà Nội. Được thấy được di ảnh của bà. Được đứng trước mộ của bà, được thắp một nén nhang, thay thế cho ba tôi, để quỳ lạy tạ ơn sinh thành của bà Nội.
Nhờ bà Nội mà có được ba tôi, rồi có được anh chị em chúng tôi hôm nay. Trước là quỳ lạy tạ ơn sinh thành của bà, sau nữa là xin quỳ lạy để sám hối bởi cái sự xa cách ngàn trời mà anh chị em chúng tôi đã để cho thời gian làm cho ray rứt mãi.
Bà Nội với ba tôi, với anh chị em chúng tôi, là những người có duyên khởi sự với nhau, nhưng ngã phận bọt bèo đã làm cho chúng tôi, ba tôi cùng với bà Nội trở nên xa ngái.
Hôm qua, khi tôi gọi điện thoại về thăm bà chị. Bà chị báo cho tôi một tin bất ngờ, ông anh của tôi ở Daklak đã có những thông tin để có thể đi tìm bà Nội.
Theo lời bà chị tôi kể là có người giới thiệu cho ông anh tôi một người Thầy chuyên tìm mộ người đã mất. Không biết trời xui đất khiến thế nào, hay chỉ là một sự ngẫu nhiên khó lý giải... Chỉ một vài dòng hết sức sơ lược về bà Nội như trên, mà ông Thầy đã cho ông anh tôi những thông tin về bà Nội, đã không còn, nhưng hiện tại có con, có cháu của bà Nội ở Bình Định Quy Nhơn. Mặc dù chưa rõ thực hư nhưng bà chị và ông anh tôi vẫn khấp khởi mừng thầm. Hy vọng thời gian sắp tới đây ông anh tôi sẽ về Bình Định, Quy Nhơn, tìm đến cái địa điểm qua lời mô tả của ông Thầy, để tìm bà Nội và nhận người bà con ruột rà thân thuộc.
Không biết mọi người nghĩ sao, nhưng với tôi, tôi nghĩ rằng có một thế giới khác sống ngoài mình. Đó là thế giới của tâm linh.
Tôi nghĩ rằng, có thể sau khi ba tôi mất đi, ở thế giới hoàn toàn khác với dương thế hiện hành, ông đã tìm gặp được bà Nội và có thể đó là một sự đưa đẩy ông anh tôi tìm được ông Thầy, đặc biệt hơn là đã giúp cho ông Thầy có những thông tin về bà Nội, về người bà con đầy lý thú.
Tôi tưởng tượng rằng, ba tôi và bà Nội gặp nhau chắc là cảm động. Một sự gặp gỡ của tủi của hờn. Sự giận, sự thương có thể xảy ra nhưng trong đó, niềm mừng rỡ giữa mẹ và con trong hạnh ngộ trùng phùng là điều chắc chắn.
Rồi tôi cũng đang tưởng tượng về sự gặp gỡ giữa anh chị em tôi với những người bà con ở Bình Định Quy Nhơn. Sự gặp gỡ ban đầu có thể có những lạ lẫm, ngại ngùng. Nhưng tôi tin rằng sự thân thiết sẽ dễ dàng xảy ra khi biết rằng "một giọt máu đào hơn ao nước lã".
Hy vọng!
Sunday, June 19, 2011
Ba tôi (2)
Ba tôi là một người rất thích những vật dụng, những thiết bị điện tử. Mỗi lần về thăm nhà, thấy ông cứ loay hoay chỉnh sửa cây ăng-ten, xoay qua xoay về rồi cột cột sợi dây cho tivi được rõ hình để phục vụ con cháu. Thi thoảng lại thấy ông rị mọ tháo ráp cái đầu DVD hoặc gắn nối sợi dây loa.. Thấy vậy, ông anh thứ hai mua tặng cho Ba tôi cái đầu DVD của Nhật đắt tiền. Ba tôi chê: "Dở ẹc, cái này nhiều tiền nhưng dỏm. Không đọc được đĩa hát của tao." Bởi rằng là, những đĩa kinh thuyết pháp, đĩa phim hoặc ca nhạc mà Ba tôi mua, hoặc ai đó đem cho đều là đĩa copy hàng lậu. Anh em chúng tôi thường hay đùa Ba là chuyên gia xài hàng nhái. Ổng cười cười rồi bảo: ở Huế như rứa là xịn lắm rồi. Đòi chi?
Bây giờ mỗi khi đi Fry's hoặc Best Buy, đến quầy hàng điện máy (electrical) tôi cứ đứng tần ngần và nhớ đến Ba tôi. Hoặc những lần đến nhà người quen, bạn bè, thấy người ta mở đĩa hát Thúy Nga, Asia hoặc DVD ca nhạc mừng Xuân... là tôi lại nhớ đến ông khôn xiết. Vì biết rằng Ba tôi thích nghe, thích coi đĩa nhạc và thậm chí sưu tầm cho dù là đĩa sang lại.
Với Ba tôi, ngoài chiếc máy may thì chiếc radio là vật gắn liền với cuộc đời ông. Nhớ những năm tháng tuổi thơ được ở cạnh bên ông, trong một đêm ông nghe BBC, đài VOA, theo dõi đài RFI, đài Á Châu Tự Do RFA, và cuối cùng ngủ thiếp đi bởi chương trình tiếng thơ, hoặc đọc truyện đêm khuya của đài Hà nội.
Tôi là đứa con có cuộc sống ít gần gũi với gia đình. Vì vậy những kỷ niệm với Ba tôi cũng không nhiều lắm. Nhớ có một lần, năm đó tôi học lớp 11, tuổi mới lớn lên nên cũng bắt đầu yêu đương lung tung, đàn đúm theo bạn, kết bè, bỏ học bỏ hành, tập tành làm người lớn. Buổi sáng như lệ thường, Ba tôi đi làm, hôm đó một mình tôi ở nhà. Yên tâm nhà vắng không còn ai, tôi khép vội cửa nhà trên và chui xuống bếp hút trộm vài hơi thuốc lá. Bất ngờ cửa mở Ba bước vào, thấy tôi ngậm điếu thuốc, tưởng là chuyến này sẽ có một trận lôi đình, nhưng ông chỉ hỏi một câu: Bữa ni hút thuốc nữa à? mà không một lời la mắng tôi về sự bắt đầu hư đốn. Ba tôi giải thích như để trấn an: "Ba để quên đôi mắt kính ở nhà. Quay lại lấy thì thấy nhà không có ai nên mới đi tìm con như vậy..."
Ba quả là một người cha hiền từ và vị tha.
Ba tôi có tất cả tám người con. Ba gái năm trai. Có hai bà chị và một đứa em trai lập gia đình sống ở gần nhà, riêng đám còn lại thì sống lưu lạc mỗi người một xứ. Vì vậy, sự chăm sóc dành cho Ba chỉ là những lời nói qua điện thoại hoặc thăm hỏi thư từ. Có dịp lễ Tết, giỗ chạp mới về thăm ông. Khi có mặt của đứa này thì vắng mặt đứa kia, nên giữa sự sum vầy của con cái dành cho Ba tôi vẫn ít khi được trọn vẹn.
Nhớ có một năm, mấy anh chị em chúng tôi đều nhận được thư Ba. Rồi liên lạc với nhau xem trong đám con, người nào là quan trọng. Hỏi: "Nhận được thư Ba chưa? Dạ rồi, của em là bản photo. Hahaha..." Mấy anh em kháo nhau rồi hả hê cười trên điện thoại.
Chả là, Ba tôi viết một lá thư, ông đem photocopy rồi gởi đều cho tất cả. Sau một hồi truy nguyên thì cuối cùng biết được ông anh thứ hai - con trai đầu là người quan trọng vì nhận được lá thư bản gốc.
Sau về thăm, Ba tôi cười giải thích. Gần chỗ Ba may có tiệm photocopy, viết thư cho tụi bây thông báo tình hình ở nhà thì giống nhau, lui tới cũng chỉ có như vầy... Hơn nữa, Ba muốn coi cái máy nó hoạt động thế nào, nên xách cái lá thư qua nhờ anh photocopy cho nó tiện.
Ba thiệt là người biết tận dụng phương tiện khoa học kỹ thuật rất tân thời.
Khi mới qua sống ở xứ này, tôi thường gọi điện thoại về nhà hỏi thăm tình hình sức khỏe. Cuối buổi nói chuyện, Ba cũng dặn dò và chúc tôi sức khỏe. Theo thói quen mới học được của xứ văn minh. Khi nhận lời chúc của Ba thì tôi nói hai chữ Thank you! Ba ngỡ ngàng, buộc miệng: Ui chao! Rồi cả Ba và tôi đều bật lên cười khanh khách.
Ba tôi là người sống đức độ và vị tha. Ngày ông mất tôi báo hung tin cho bà con họ hàng. Ai cũng quý mến ông và ngẩn ngơ buông lời tiếc rẻ.
Cuộc sống của Ba tôi đơn giản, nhẹ nhàng, ít làm phiền ai. Và khi ra đi ông cũng thanh thản, nhẹ nhàng, không vướng bận và không mảy may làm phiền vợ con và cháu chắt như cuộc đời của ông vậy đó.
Chúng tôi, những đứa con và cháu của ông, luôn tiếc thương ông và sẽ mãi nhớ đến ông nhiều...
Bây giờ mỗi khi đi Fry's hoặc Best Buy, đến quầy hàng điện máy (electrical) tôi cứ đứng tần ngần và nhớ đến Ba tôi. Hoặc những lần đến nhà người quen, bạn bè, thấy người ta mở đĩa hát Thúy Nga, Asia hoặc DVD ca nhạc mừng Xuân... là tôi lại nhớ đến ông khôn xiết. Vì biết rằng Ba tôi thích nghe, thích coi đĩa nhạc và thậm chí sưu tầm cho dù là đĩa sang lại.
Với Ba tôi, ngoài chiếc máy may thì chiếc radio là vật gắn liền với cuộc đời ông. Nhớ những năm tháng tuổi thơ được ở cạnh bên ông, trong một đêm ông nghe BBC, đài VOA, theo dõi đài RFI, đài Á Châu Tự Do RFA, và cuối cùng ngủ thiếp đi bởi chương trình tiếng thơ, hoặc đọc truyện đêm khuya của đài Hà nội.
Tôi là đứa con có cuộc sống ít gần gũi với gia đình. Vì vậy những kỷ niệm với Ba tôi cũng không nhiều lắm. Nhớ có một lần, năm đó tôi học lớp 11, tuổi mới lớn lên nên cũng bắt đầu yêu đương lung tung, đàn đúm theo bạn, kết bè, bỏ học bỏ hành, tập tành làm người lớn. Buổi sáng như lệ thường, Ba tôi đi làm, hôm đó một mình tôi ở nhà. Yên tâm nhà vắng không còn ai, tôi khép vội cửa nhà trên và chui xuống bếp hút trộm vài hơi thuốc lá. Bất ngờ cửa mở Ba bước vào, thấy tôi ngậm điếu thuốc, tưởng là chuyến này sẽ có một trận lôi đình, nhưng ông chỉ hỏi một câu: Bữa ni hút thuốc nữa à? mà không một lời la mắng tôi về sự bắt đầu hư đốn. Ba tôi giải thích như để trấn an: "Ba để quên đôi mắt kính ở nhà. Quay lại lấy thì thấy nhà không có ai nên mới đi tìm con như vậy..."
Ba quả là một người cha hiền từ và vị tha.
Ba tôi có tất cả tám người con. Ba gái năm trai. Có hai bà chị và một đứa em trai lập gia đình sống ở gần nhà, riêng đám còn lại thì sống lưu lạc mỗi người một xứ. Vì vậy, sự chăm sóc dành cho Ba chỉ là những lời nói qua điện thoại hoặc thăm hỏi thư từ. Có dịp lễ Tết, giỗ chạp mới về thăm ông. Khi có mặt của đứa này thì vắng mặt đứa kia, nên giữa sự sum vầy của con cái dành cho Ba tôi vẫn ít khi được trọn vẹn.
Nhớ có một năm, mấy anh chị em chúng tôi đều nhận được thư Ba. Rồi liên lạc với nhau xem trong đám con, người nào là quan trọng. Hỏi: "Nhận được thư Ba chưa? Dạ rồi, của em là bản photo. Hahaha..." Mấy anh em kháo nhau rồi hả hê cười trên điện thoại.
Chả là, Ba tôi viết một lá thư, ông đem photocopy rồi gởi đều cho tất cả. Sau một hồi truy nguyên thì cuối cùng biết được ông anh thứ hai - con trai đầu là người quan trọng vì nhận được lá thư bản gốc.
Sau về thăm, Ba tôi cười giải thích. Gần chỗ Ba may có tiệm photocopy, viết thư cho tụi bây thông báo tình hình ở nhà thì giống nhau, lui tới cũng chỉ có như vầy... Hơn nữa, Ba muốn coi cái máy nó hoạt động thế nào, nên xách cái lá thư qua nhờ anh photocopy cho nó tiện.
Ba thiệt là người biết tận dụng phương tiện khoa học kỹ thuật rất tân thời.
Khi mới qua sống ở xứ này, tôi thường gọi điện thoại về nhà hỏi thăm tình hình sức khỏe. Cuối buổi nói chuyện, Ba cũng dặn dò và chúc tôi sức khỏe. Theo thói quen mới học được của xứ văn minh. Khi nhận lời chúc của Ba thì tôi nói hai chữ Thank you! Ba ngỡ ngàng, buộc miệng: Ui chao! Rồi cả Ba và tôi đều bật lên cười khanh khách.
Ba tôi là người sống đức độ và vị tha. Ngày ông mất tôi báo hung tin cho bà con họ hàng. Ai cũng quý mến ông và ngẩn ngơ buông lời tiếc rẻ.
Cuộc sống của Ba tôi đơn giản, nhẹ nhàng, ít làm phiền ai. Và khi ra đi ông cũng thanh thản, nhẹ nhàng, không vướng bận và không mảy may làm phiền vợ con và cháu chắt như cuộc đời của ông vậy đó.
Chúng tôi, những đứa con và cháu của ông, luôn tiếc thương ông và sẽ mãi nhớ đến ông nhiều...
Thursday, June 16, 2011
Ba tôi (1)
Đọc bài viết Bố bên nhà chị Ba Đậu. Ngồi thừ người ra. Nhớ ông Ba của mình quá chừng. Cũng nhờ vậy mới biết rằng: Father Day đang đến. Trước đây ở VN, không có ngày của Cha. Qua sống bên này, thấy mọi người nhắc nhở nhau khi sắp đến tuần lễ có ngày Father Day. Nhưng tôi không có cơ hội để nói những lời yêu thương cho Ba tôi nghe được nữa rồi. Tôi không có được ân sủng làm những điều đẹp nhất để dành cho Ba tôi nữa.Tiếc quá!
Ba tôi mất cách đây 3 năm, giữa một ngày mưa lạnh mùa Đông ở Huế. Khi cơm nước buổi trưa xong, Ba tôi mở đĩa phim về kinh thuyết pháp gì đó cho Mẹ tôi cùng mấy Dì bà con trong xóm ngồi xem. Ông giới thiệu: Hay lắm! Sau đó ông đi nằm vì cảm thấy không khỏe trong người. Ngoài trời, Huế mưa dầm dề. Lạnh. Từ giấc ngủ chiều muộn màng đó. Ba tôi đã không dậy được nữa. Bên này lúc đó khoảng 2 giờ sáng của đêm Chủ nhật, chuông điện thoại rung lên. Nghe tiếng được tiếng mất của đứa cháu gái ở bên kia dàn dụa: "Cậu ơi, cậu ơi.. ông Ngoại đi ngủ, rồi không dậy nữa rồi cậu ơi. Ông Ngoại bỏ tụi con mà đi rồi... Tôi thảng thốt bật dậy. Lạnh sống lưng. Ngồi câm lặng suốt trong đêm mà nước mắt cứ trào. Tôi đã khóc vì tiếc thương Ba tôi trong nỗi niềm của ân hận.
Hồi chiều tối, lúc khoảng 9 giờ. Tính gọi về cho Ba, nhưng nghĩ lại. Thôi. Để sáng mai trên đường lái xe đi làm rồi hẵng gọi. Và kể từ cái ngày Chủ nhật oan nghiệt đó, tôi đã không còn cơ hội nghe được giọng nói của Ba tôi nữa. Tôi là kẻ thật đáng giận.
Khi bắt đầu cuộc sống ở xứ này. Mọi dự định sẽ làm cho Ba tôi vui mãi mãi ở lại trong dự tính và không bao giờ được thực hiện. Tôi chưa kể gì nhiều về cuộc sống ở bên này cho Ba tôi nghe. Tôi đã lần lữa không tâm sự hay kịp chia sẻ những niềm vui tôi có được thì Ba tôi đã đi rồi. Tôi đã hẹn với Ba tôi trong ngày gặp mặt. Tôi đã trễ hẹn và mãi mãi là đứa con trễ hẹn.
Một người bạn đã từng nói với tôi rằng: Khi ông ba mất thì con trai là những thằng ân hận nhất. Tôi đã nghiệm ra cho chính bản thân mình. Và điều đó khiến lòng tôi ray rứt mãi.
Ba tôi là thợ may. Trước 1975, ở Đà Nẵng, ông đứng thợ chính thức cho bà chủ tiệm may hiệu Kim Thoa. Ông đứng lớp phụ trách giảng dạy cắt may cho cơ sở của bà Đại Lượng. Học trò của ông có cả hàng trăm người. Khi chạy tản cư, ông đã bỏ lại nhà cửa, tài sản cho người ở lại. Tôi đã chứng kiến ánh mắt tuyệt vọng của Ba tôi khi đứng nhìn ông chủ ghe cắt đứt sợi dây neo ác nghiệt để cướp đi toàn bộ của cải, hành lý, tư trang của toàn bộ gia đình khi tính vào tử thủ ở Saigon.
Sau 1975 quay lại Đà Nẵng thì tất cả đã sang trang, và hàng xóm là những người dường như nhìn nhau xa lạ. Dắt díu vợ con về Huế. Từ một thị dân, Ba tôi đã phải vác cuốc lên vỡ đất khai hoang trồng sắn, trồng khoai ở Bastogne, Bình Điền, Hương Mai... Dẹp cây kim, cuộn chỉ, Ba tôi nhận luôn cả mảng ruộng trên đồng An Cựu để trồng rau muống.
Với một gia đình đông con đến 8 miệng ăn. Ba tôi đã không từ chối bất kỳ một điều kiện gì để kiếm gạo phụ giúp Mẹ tôi chạy ăn từng bữa.
Và cũng vì kiếp sống mưu sinh. Ba tôi lưu lạc vào tận xứ người ở miệt Bạc Liêu, đạp chiếc máy may cọc cạnh để hàng tháng gửi tiền cho Mẹ tôi. Nhưng cuộc sống hào phóng của miền Nam cũng không giữ chân được Ba tôi, ông lại quành trở ra vì vợ vì con vì ông Nội và vì quê hương bản quán.
Thời cuộc tuy đã thay đổi, đời sống có những khó khăn, chật vật hơn nhưng Ba tôi vẫn cố gắng duy trì nếp sống của một thị dân. Cứ mỗi cuối tuần, Ba tôi lại đưa anh chị em chúng tôi, những đứa còn nhỏ, đến rạp xi-nê để thỏa trí tưởng tượng của mình trong thế giới điện ảnh. Được coi xi-nê, được ăn chè ở cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Rồi được biết thế giới bên ngoài còn có chuyện cổ tích Grim, có ông thần thời gian ngồi quay mãi chiếc bánh xe. Đứng mút cây cà-rem mà mơ ước mình có Con ngỗng vàng, hoặc Ba hạt dẻ nhiệm màu như cô bé lọ lem trong phim truyện...
Thế giới vẫn còn có nhiều màu sắc đã hình thành trong tôi. Niềm đam mê phim ảnh của tôi đã bắt đầu từ đó!
Ba tôi là một người hiền từ. Hầu như tôi chưa bao giờ thấy ông la mắng vợ con bao giờ cả. Sống gửi rể ở làng Ngoại, ông đã chiếm trọn cảm tình của bà con từ làng trên xóm dưới. Ngày Ba tôi mất, nhiều người đến thăm đông lắm. Có nhiều người sống ở làng kế bên cũng tìm ghé qua, thắp cho ông một cây nhang, vái hai lạy thay cho lời từ giã. Đến lúc đó, anh chị em trong nhà mới thấy được ý nghĩa trọn vẹn qua cuộc sống của Ba tôi.
Là một người cha hiền từ, Ba tôi luôn tôn trọng ý kiến cá nhân của anh chị em tôi theo từng người một.Bà chị đầu lập gia đình với anh bộ đội phục viên ông cũng không cấm cản. Ông anh thứ nhì chống lệnh điều động công tác ở vùng sâu Ba tôi cũng chỉ nói những lời khích lệ, động viên. Ông anh thứ ba bán cái sản nghiệp của Ba là chiếc máy may hiệu Singer để tìm cách vượt biên, ông cũng chỉ đứng lặng mỉm cười. Thằng tôi là một đứa con cứng đầu, học hành dở dang, làm theo ý thích của mình, tự động rút toàn bộ hồ sơ xin chuyển trường, Ba chỉ hỏi một câu: Sao vậy con, rồi ông cầm bút lên ký giấy...
Ba tôi mất cách đây 3 năm, giữa một ngày mưa lạnh mùa Đông ở Huế. Khi cơm nước buổi trưa xong, Ba tôi mở đĩa phim về kinh thuyết pháp gì đó cho Mẹ tôi cùng mấy Dì bà con trong xóm ngồi xem. Ông giới thiệu: Hay lắm! Sau đó ông đi nằm vì cảm thấy không khỏe trong người. Ngoài trời, Huế mưa dầm dề. Lạnh. Từ giấc ngủ chiều muộn màng đó. Ba tôi đã không dậy được nữa. Bên này lúc đó khoảng 2 giờ sáng của đêm Chủ nhật, chuông điện thoại rung lên. Nghe tiếng được tiếng mất của đứa cháu gái ở bên kia dàn dụa: "Cậu ơi, cậu ơi.. ông Ngoại đi ngủ, rồi không dậy nữa rồi cậu ơi. Ông Ngoại bỏ tụi con mà đi rồi... Tôi thảng thốt bật dậy. Lạnh sống lưng. Ngồi câm lặng suốt trong đêm mà nước mắt cứ trào. Tôi đã khóc vì tiếc thương Ba tôi trong nỗi niềm của ân hận.
Hồi chiều tối, lúc khoảng 9 giờ. Tính gọi về cho Ba, nhưng nghĩ lại. Thôi. Để sáng mai trên đường lái xe đi làm rồi hẵng gọi. Và kể từ cái ngày Chủ nhật oan nghiệt đó, tôi đã không còn cơ hội nghe được giọng nói của Ba tôi nữa. Tôi là kẻ thật đáng giận.
Khi bắt đầu cuộc sống ở xứ này. Mọi dự định sẽ làm cho Ba tôi vui mãi mãi ở lại trong dự tính và không bao giờ được thực hiện. Tôi chưa kể gì nhiều về cuộc sống ở bên này cho Ba tôi nghe. Tôi đã lần lữa không tâm sự hay kịp chia sẻ những niềm vui tôi có được thì Ba tôi đã đi rồi. Tôi đã hẹn với Ba tôi trong ngày gặp mặt. Tôi đã trễ hẹn và mãi mãi là đứa con trễ hẹn.
Một người bạn đã từng nói với tôi rằng: Khi ông ba mất thì con trai là những thằng ân hận nhất. Tôi đã nghiệm ra cho chính bản thân mình. Và điều đó khiến lòng tôi ray rứt mãi.
Ba tôi là thợ may. Trước 1975, ở Đà Nẵng, ông đứng thợ chính thức cho bà chủ tiệm may hiệu Kim Thoa. Ông đứng lớp phụ trách giảng dạy cắt may cho cơ sở của bà Đại Lượng. Học trò của ông có cả hàng trăm người. Khi chạy tản cư, ông đã bỏ lại nhà cửa, tài sản cho người ở lại. Tôi đã chứng kiến ánh mắt tuyệt vọng của Ba tôi khi đứng nhìn ông chủ ghe cắt đứt sợi dây neo ác nghiệt để cướp đi toàn bộ của cải, hành lý, tư trang của toàn bộ gia đình khi tính vào tử thủ ở Saigon.
Sau 1975 quay lại Đà Nẵng thì tất cả đã sang trang, và hàng xóm là những người dường như nhìn nhau xa lạ. Dắt díu vợ con về Huế. Từ một thị dân, Ba tôi đã phải vác cuốc lên vỡ đất khai hoang trồng sắn, trồng khoai ở Bastogne, Bình Điền, Hương Mai... Dẹp cây kim, cuộn chỉ, Ba tôi nhận luôn cả mảng ruộng trên đồng An Cựu để trồng rau muống.
Với một gia đình đông con đến 8 miệng ăn. Ba tôi đã không từ chối bất kỳ một điều kiện gì để kiếm gạo phụ giúp Mẹ tôi chạy ăn từng bữa.
Và cũng vì kiếp sống mưu sinh. Ba tôi lưu lạc vào tận xứ người ở miệt Bạc Liêu, đạp chiếc máy may cọc cạnh để hàng tháng gửi tiền cho Mẹ tôi. Nhưng cuộc sống hào phóng của miền Nam cũng không giữ chân được Ba tôi, ông lại quành trở ra vì vợ vì con vì ông Nội và vì quê hương bản quán.
Thời cuộc tuy đã thay đổi, đời sống có những khó khăn, chật vật hơn nhưng Ba tôi vẫn cố gắng duy trì nếp sống của một thị dân. Cứ mỗi cuối tuần, Ba tôi lại đưa anh chị em chúng tôi, những đứa còn nhỏ, đến rạp xi-nê để thỏa trí tưởng tượng của mình trong thế giới điện ảnh. Được coi xi-nê, được ăn chè ở cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Rồi được biết thế giới bên ngoài còn có chuyện cổ tích Grim, có ông thần thời gian ngồi quay mãi chiếc bánh xe. Đứng mút cây cà-rem mà mơ ước mình có Con ngỗng vàng, hoặc Ba hạt dẻ nhiệm màu như cô bé lọ lem trong phim truyện...
Thế giới vẫn còn có nhiều màu sắc đã hình thành trong tôi. Niềm đam mê phim ảnh của tôi đã bắt đầu từ đó!
Ba tôi là một người hiền từ. Hầu như tôi chưa bao giờ thấy ông la mắng vợ con bao giờ cả. Sống gửi rể ở làng Ngoại, ông đã chiếm trọn cảm tình của bà con từ làng trên xóm dưới. Ngày Ba tôi mất, nhiều người đến thăm đông lắm. Có nhiều người sống ở làng kế bên cũng tìm ghé qua, thắp cho ông một cây nhang, vái hai lạy thay cho lời từ giã. Đến lúc đó, anh chị em trong nhà mới thấy được ý nghĩa trọn vẹn qua cuộc sống của Ba tôi.
Là một người cha hiền từ, Ba tôi luôn tôn trọng ý kiến cá nhân của anh chị em tôi theo từng người một.Bà chị đầu lập gia đình với anh bộ đội phục viên ông cũng không cấm cản. Ông anh thứ nhì chống lệnh điều động công tác ở vùng sâu Ba tôi cũng chỉ nói những lời khích lệ, động viên. Ông anh thứ ba bán cái sản nghiệp của Ba là chiếc máy may hiệu Singer để tìm cách vượt biên, ông cũng chỉ đứng lặng mỉm cười. Thằng tôi là một đứa con cứng đầu, học hành dở dang, làm theo ý thích của mình, tự động rút toàn bộ hồ sơ xin chuyển trường, Ba chỉ hỏi một câu: Sao vậy con, rồi ông cầm bút lên ký giấy...
Saturday, June 4, 2011
Kẻ cắp gặp bà già
Tối hôm qua gọi phone về nhà. Bà già kể chuyện tuần rồi trộm viếng nhà lúc khoảng 2 giờ sáng. Gặp bà già tỉnh ngủ. Nhưng vẫn nằm quan sát xem tụi nó làm gì.
Khi nhập nhà, việc đầu tiên là tụi nó (2 thằng) lo phòng thân, đi mở cửa trước. Sau đó muốn vào phòng của người em dâu và đứa cháu gái để lục lọi nhưng cửa phòng bị lock. Quành trở ra tụi nó tính dắt xe máy. Lúc đó bà già mới la toáng lên. Người nhà thức dậy, bà con hàng xóm chạy qua thì tụi nó đã thoát mất tiêu rồi.
Hỏi có thấy và biết là ai không? Không. Vì tụi nó khi vào nhà đã tắt hết mấy cây đèn ở bàn thờ nên chỉ thấy dáng người chứ không nhìn rõ mặt.
Nghĩ, ở quê thường cửa nẻo rất chi là hời hợt. Người ta sống bởi lòng tin của nhau. Khóa lòng mới đáng ngại chứ khóa cửa thì nhằm nhò gì.
Thấy cảnh nhà đơn chiếc, vắng người nên có những người sanh lòng bất lương mới làm vậy. Lo lo.
But I have a great mom!
Khi nhập nhà, việc đầu tiên là tụi nó (2 thằng) lo phòng thân, đi mở cửa trước. Sau đó muốn vào phòng của người em dâu và đứa cháu gái để lục lọi nhưng cửa phòng bị lock. Quành trở ra tụi nó tính dắt xe máy. Lúc đó bà già mới la toáng lên. Người nhà thức dậy, bà con hàng xóm chạy qua thì tụi nó đã thoát mất tiêu rồi.
Hỏi có thấy và biết là ai không? Không. Vì tụi nó khi vào nhà đã tắt hết mấy cây đèn ở bàn thờ nên chỉ thấy dáng người chứ không nhìn rõ mặt.
Nghĩ, ở quê thường cửa nẻo rất chi là hời hợt. Người ta sống bởi lòng tin của nhau. Khóa lòng mới đáng ngại chứ khóa cửa thì nhằm nhò gì.
Thấy cảnh nhà đơn chiếc, vắng người nên có những người sanh lòng bất lương mới làm vậy. Lo lo.
But I have a great mom!
Saturday, May 7, 2011
Ông Ngoại
Hôm bữa thứ Năm là ngày giỗ của ông Ngoại tôi. Gọi điện thoại về nhà và nghe nói đám giỗ ông Ngoại đông vui lắm. Từ ngày sống xa gia đình, ngót nghét cũng 2 chục năm nay, ít khi có mặt ở nhà. Mất cơ hội gặp những người thân vào những dịp như thế này.
Tôi không hề biết mặt ông Ngoại. Ngày ông mất, Mẹ tôi về thọ tang, ba ngày sau, giữa lúc tang gia bối rối thì tôi được ra đời. Tiếng khóc oe oe của tôi cũng được hòa theo giữa tiếng khóc thương tiếc về ông của cậu, dì, ôn, mụ, của đám con cháu, những người thân thuộc xung quanh ông Ngoại.
Sau này lớn lên, tôi được biết về cuộc đời của ông Ngoại thông qua ký ức của những người thân trong gia đình hoặc những người quen biết trong làng.
Ông Ngoại là người hay chữ. Ông rành chữ Nôm, nói và viết được Pháp ngữ, còn tiếng Việt thì ông viết chữ rất đẹp. Tuổi thơ tôi lớn lên sau 1975, vì ở nhà của Ngoại, thường lục lọi giấy tờ cũ nên thấy được bút tích của ông Ngoại.
Hầu như con nít ở trong làng đều được ông dạy dỗ những chữ cái đầu tiên trước khi vào được trường học. Giống như pre-school bây giờ ở đây vậy. Nếu gia đình nào không đủ sức cho con ăn học, thì gửi con học "ở trường của ông Ngoại con" luôn.
Là người hay chữ, nên ông Ngoại đặt tên cho con cái rất hay. Tên con trai ông đặt là (Xuân Quang), Xuân Vinh, (Xuân Nghị), (Xuân Lộc). Tên con gái ông đặt là Bích Nhạn, Hồng Phấn. Vào thời đó, những cái tên đó gọi lên nghe rất kêu.
Nhà của ông Ngoại là một cái nhà rường bề thế, có nhiều cột, nằm trong khu vườn rộng 5 sào. Theo như lời mẹ tôi kể, nhờ trúng một mùa dưa gang bội thu mà ông đã xây được ngôi nhà như thế này. Tuổi thơ của mấy anh chị em tôi gắn liền với quê Ngoại, nhà Ngoại và đặc biệt là khu vườn có nhiều cây trái của Ngoại. Cây măng cụt xanh um, cho trái vào những tháng mùa Đông để mẹ tôi đổi gạo. Những trái dâu tươi ngon mọng nước lạ lẫm mọc ở thân cây. Những trái thanh trà với vị ngọt thanh tao của vùng Lương Quán, Nguyệt Biều nức tiếng cả một vùng thành phố Huế...Vườn của ngoại luôn đầy ắp tiếng cười lũ bạn học của anh chị em tôi trong những ngày hè.
Anh chị em tôi lớn lên và trưởng thành trong sự đùm bọc, thương yêu của làng quê Ngoại. Ngoại không phải là ngoài như người ta thường nói, mà tình sâu nghĩa nặng ở bên trong. Ngoại bao giờ cũng là niềm thương mong mỏi để ngước về. Ngoại là chan chứa!
Viết vài dòng hôm nay để tưởng nhớ về Ngoại. Tuy không gặp mặt được ông, nhưng ông là nỗi mất mát đầu tiên của con, khi con có mặt ở trên đời.
Tôi không hề biết mặt ông Ngoại. Ngày ông mất, Mẹ tôi về thọ tang, ba ngày sau, giữa lúc tang gia bối rối thì tôi được ra đời. Tiếng khóc oe oe của tôi cũng được hòa theo giữa tiếng khóc thương tiếc về ông của cậu, dì, ôn, mụ, của đám con cháu, những người thân thuộc xung quanh ông Ngoại.
Sau này lớn lên, tôi được biết về cuộc đời của ông Ngoại thông qua ký ức của những người thân trong gia đình hoặc những người quen biết trong làng.
Ông Ngoại là người hay chữ. Ông rành chữ Nôm, nói và viết được Pháp ngữ, còn tiếng Việt thì ông viết chữ rất đẹp. Tuổi thơ tôi lớn lên sau 1975, vì ở nhà của Ngoại, thường lục lọi giấy tờ cũ nên thấy được bút tích của ông Ngoại.
Hầu như con nít ở trong làng đều được ông dạy dỗ những chữ cái đầu tiên trước khi vào được trường học. Giống như pre-school bây giờ ở đây vậy. Nếu gia đình nào không đủ sức cho con ăn học, thì gửi con học "ở trường của ông Ngoại con" luôn.
Là người hay chữ, nên ông Ngoại đặt tên cho con cái rất hay. Tên con trai ông đặt là (Xuân Quang), Xuân Vinh, (Xuân Nghị), (Xuân Lộc). Tên con gái ông đặt là Bích Nhạn, Hồng Phấn. Vào thời đó, những cái tên đó gọi lên nghe rất kêu.
Nhà của ông Ngoại là một cái nhà rường bề thế, có nhiều cột, nằm trong khu vườn rộng 5 sào. Theo như lời mẹ tôi kể, nhờ trúng một mùa dưa gang bội thu mà ông đã xây được ngôi nhà như thế này. Tuổi thơ của mấy anh chị em tôi gắn liền với quê Ngoại, nhà Ngoại và đặc biệt là khu vườn có nhiều cây trái của Ngoại. Cây măng cụt xanh um, cho trái vào những tháng mùa Đông để mẹ tôi đổi gạo. Những trái dâu tươi ngon mọng nước lạ lẫm mọc ở thân cây. Những trái thanh trà với vị ngọt thanh tao của vùng Lương Quán, Nguyệt Biều nức tiếng cả một vùng thành phố Huế...Vườn của ngoại luôn đầy ắp tiếng cười lũ bạn học của anh chị em tôi trong những ngày hè.
Anh chị em tôi lớn lên và trưởng thành trong sự đùm bọc, thương yêu của làng quê Ngoại. Ngoại không phải là ngoài như người ta thường nói, mà tình sâu nghĩa nặng ở bên trong. Ngoại bao giờ cũng là niềm thương mong mỏi để ngước về. Ngoại là chan chứa!
Viết vài dòng hôm nay để tưởng nhớ về Ngoại. Tuy không gặp mặt được ông, nhưng ông là nỗi mất mát đầu tiên của con, khi con có mặt ở trên đời.
Thursday, April 14, 2011
Ông Nội
Hôm nay, ở VN là ngày kỵ của ông Nội. Nếu còn sống, bây giờ ông thọ 102 tuổi. Ký ức, kỷ niệm về ông Nội có lẽ không nhiều, ngoài bà chị đầu và ông anh trai lớn - cháu đích tôn của ông. Hơn nữa, tuổi thơ tôi lớn lên trong điều kiện gia đình ba mẹ tôi không cùng sống chung với gia đình ông bà Nội. Và ông mất cũng đã lâu, nên những gì nhớ được về ông Nội cũng nhòa. Nhớ ra gì thì kể nấy. Và chuyện về ông Nội thường là do ba tôi kể lại.
Ông Nội tôi làm nghề thợ may. Có cửa tiệm lớn ở Morin, thành phố Huế. Không biết ông có tay nghề giỏi như thế nào, nhưng khách hàng của ông Nội lúc bấy giờ là những ông khách Tây, bà đầm, hoặc giới thượng lưu quan quyền của Huế thời Pháp.
Ông chuyên về đồ Tây, áo Veste, và đặc biệt khéo léo trong việc thiết kế và may áo đầm dạ hội cho các bà. Ba tôi kể, có lần, trong một trường hợp ngặt nghèo gì đó, có một bà đầm cần một bộ cánh đẹp để cùng chồng đi dự tiệc của một quan lớn. Bà đã tìm đến tiệm may ở Morin. Ông Nội đã cùng tốp thợ học nghề của ông thiết kế một chiếc áo dạ hội với một bông hoa lớn được may bằng tay trước sự chứng kiến và thán phục của bà đầm khách hàng, vừa nóng ruột ngồi chờ, vừa mặc thử và lấy áo trong thời gian có mấy tiếng đồng hồ. Sau lần đó, khách hàng quen biết của ông Nội không chỉ các quan Tây mà đặc biệt thường lui tới cửa tiệm là các bà vợ của các ngài quan lớn. Nhờ vậy, mà ba tôi đến tuổi đăng lính, chỉ làm lính kiểng, đóng ở đồn Mang Cá, gần nhà. Và sau này có giấy miễn dịch dài hạn luôn.
Có lẽ, vì thường giao du với giới thượng lưu, nên ông Nội cũng có cuộc sống phong lưu và đào hoa không kém. Ông đã từng làm bầu gánh hát, giao cửa tiệm lại cho thợ và ba tôi coi ngó để ông rong ruỗi theo gánh hát vào Quy Nhơn, Nha Trang, hoặc ra tận Hải Phòng. Vì vậy, gia đình tôi có đến 2 Bà Nội. Ba tôi, và có một chú nữa thuộc con bà lớn. Riêng bà Nội nhì (gia đình chính của ông Nội sau này, kể từ ngày gác kiếm) với ông tôi có thêm hai chú và mấy bà o (= bà cô).
Ba tôi cũng theo nghề của ông Nội. Sau khi lấy vợ, ba tôi ra riêng và dọn vào Đà Nẵng để sinh sống và hành nghề để không đụng hàng với ông Nội. Hơn nữa, cũng để giải thoát cái kiếp làm dâu của mẹ tôi với bà Nội nhì. Và vì ở xa, nên đây cũng là lý do mà mấy anh chị em lứa sau của chúng tôi không có nhiều ký ức về ông Nội, ngoại trừ bà chị, ông anh mà tôi đã nói ở trên. Hai người này thường được đưa về thăm ông bà Nội mỗi khi có dịp giỗ, Tết hoặc nghỉ hè.
Mặc dù không có nhiều dịp được ở bên ông Nội, hoặc không có nhiều kỷ niệm với ông, nhưng với anh chị em chúng tôi - và chắc chắn với nhiều người khác cũng vậy - hình ảnh ông Nội là một điều gì đó đầy kính yêu, rất mực quý trọng. Ông Nội là khuôn mẫu linh thiêng luôn được thương nhớ và tột bực tôn thờ.
Nói thì nói vậy, dù cách xa mấy, không ít thì nhiều thì chúng tôi cũng có thời gian gần gũi được bên ông. Năm 1975, sau mấy tháng loạn lạc, gia đình chúng tôi lúc đó đang tản cư ở Sài gòn đã quyết định dọn thẳng về Huế, vì ba mẹ tôi nghĩ đến quê hương bản quán, nghĩ đến ông Nội, muốn ở gần ông để có dịp gần gũi thăm viếng và chăm sóc ông.
Tất nhiên, ba mẹ tôi vẫn phải ở riêng. Gia đình tôi sống ở trên làng (quê Ngoại) và mấy anh chị em chúng tôi lúc bấy giờ mới được biết và gần ông Nội mỗi khi có dịp từ trên làng được về chơi phố.
Thời cuộc thay đổi nên cuộc sống cũng thay đổi. Morin không còn, tây đầm cũng không còn, giới thượng lưu cũng lo chạy gạo từng bữa ăn... vậy là ông Nội cũng rút lui về kiếm thuê một chỗ may gần nhà. Ngày ngày mở cửa tiệm, tối về đóng cửa tiệm. Thời trang quần ống túm, áo tay cánh tràn lan, vải vóc kiếm đâu ra mà may áo đầm, áo veste?
Kể cũng lạ, nghĩ lại, thời buổi nào phụ nữ cũng là giới se sua "quần là áo lượt". Ông Nội tôi từ chuyên may đồ đầm chuyển qua may đồ bà ba, áo cụt, áo dài, thậm chí sáng tạo kiểu áo đồ tàu, có nút thắt nhiều kiểu dáng, được làm và kết bằng tay rất là nổi tiếng. Khách hàng của ông Nội là các bà tiểu thương ở chợ Đông Ba. Rồi ông nhận học trò qua nhiều thế hệ, dạy may nhiều kiểu dáng áo bà ba, áo tàu.
Mỗi khi được ghé tiệm của ông vào những lúc rảnh rang, tiệm vắng khách hoặc không có gì làm, tôi được phép lấy cây thước may bằng gỗ để múa may, và chơi đánh kiếm. Tiệm may của ông Nội là một thế giới của màu sắc trong mắt trẻ thơ tôi. Vải vóc, phấn kẻ, chỉ màu... những suốt chỉ bằng gỗ không còn dùng. Ông cho tôi để làm chiếc xe càng đẩy mà tụi bạn nhìn vào tôi ganh tị.
Có lẽ, điều tôi thích nhất là được ông nhờ xâu chỉ. (tức là luồn sợi chỉ qua cây kim may). Với những đứa cháu như chúng tôi, được ông Nội nhờ là một nỗi tự hào, làm được việc gì cho ông là một niềm hãnh diện.
Còn nhớ có những lần buổi chiều xế xế, ông già đẩy xe bán cao lâu, phở gõ đi ngang. Vậy là tối hôm đó hai ông cháu tôi về nhà, nhìn nồi cơm độn sắn hoặc rế khoai mà lắc đầu nguầy nguậy đòi đi ngủ sớm.
Tuổi già, mắt yếu và bị bệnh lãng trí. Từ cửa tiệm thuê ông Nội chuyển về may ở nhà. Sau lần mổ cườm mắt thì ông giao hẳn sự nghiệp may vá cho chú út. Càng về già, bệnh của ông càng nặng. Có những hôm ông đi tận đẩu tận đâu, người nhà nháo nhào đi tìm nhưng cuối cùng có anh xích lô chở ông về vì "biết Ôn là người quen, thấy ôn đi lòng dòng bên rạp Hưng Đạo". Người nhà hỏi Ôn: "Đi mô mà qua tận bên nớ? Ôn tỉnh queo trả lời: Tao đi coi hát!"
Hồi xưa, có lẽ không có nhiều bia rượu, nên rất ít khi thấy ông uống. Sau này khi bệnh lãng trí nặng thêm, ông Nội đâm ra ghiền thuốc lá. Con cháu đứa nào đến thăm ông, ông gật gật vì không còn nhớ gì nhiều, ông chỉ hỏi khỏe không rồi hỏi xin thuốc lá.
Ông mất nhẹ nhàng như chính cuộc đời phong lưu của ông vậy. Đám tang của ông có khăn đỏ, khăn vàng.
Ông Nội sống phong lưu và thác linh thiêng, Cầu mong ông phù hộ cho con cháu có cuộc sống sung túc, phong lưu, bay nhảy như đời ông vậy đó!
Ông Nội tôi làm nghề thợ may. Có cửa tiệm lớn ở Morin, thành phố Huế. Không biết ông có tay nghề giỏi như thế nào, nhưng khách hàng của ông Nội lúc bấy giờ là những ông khách Tây, bà đầm, hoặc giới thượng lưu quan quyền của Huế thời Pháp.
Ông chuyên về đồ Tây, áo Veste, và đặc biệt khéo léo trong việc thiết kế và may áo đầm dạ hội cho các bà. Ba tôi kể, có lần, trong một trường hợp ngặt nghèo gì đó, có một bà đầm cần một bộ cánh đẹp để cùng chồng đi dự tiệc của một quan lớn. Bà đã tìm đến tiệm may ở Morin. Ông Nội đã cùng tốp thợ học nghề của ông thiết kế một chiếc áo dạ hội với một bông hoa lớn được may bằng tay trước sự chứng kiến và thán phục của bà đầm khách hàng, vừa nóng ruột ngồi chờ, vừa mặc thử và lấy áo trong thời gian có mấy tiếng đồng hồ. Sau lần đó, khách hàng quen biết của ông Nội không chỉ các quan Tây mà đặc biệt thường lui tới cửa tiệm là các bà vợ của các ngài quan lớn. Nhờ vậy, mà ba tôi đến tuổi đăng lính, chỉ làm lính kiểng, đóng ở đồn Mang Cá, gần nhà. Và sau này có giấy miễn dịch dài hạn luôn.
Có lẽ, vì thường giao du với giới thượng lưu, nên ông Nội cũng có cuộc sống phong lưu và đào hoa không kém. Ông đã từng làm bầu gánh hát, giao cửa tiệm lại cho thợ và ba tôi coi ngó để ông rong ruỗi theo gánh hát vào Quy Nhơn, Nha Trang, hoặc ra tận Hải Phòng. Vì vậy, gia đình tôi có đến 2 Bà Nội. Ba tôi, và có một chú nữa thuộc con bà lớn. Riêng bà Nội nhì (gia đình chính của ông Nội sau này, kể từ ngày gác kiếm) với ông tôi có thêm hai chú và mấy bà o (= bà cô).
Ba tôi cũng theo nghề của ông Nội. Sau khi lấy vợ, ba tôi ra riêng và dọn vào Đà Nẵng để sinh sống và hành nghề để không đụng hàng với ông Nội. Hơn nữa, cũng để giải thoát cái kiếp làm dâu của mẹ tôi với bà Nội nhì. Và vì ở xa, nên đây cũng là lý do mà mấy anh chị em lứa sau của chúng tôi không có nhiều ký ức về ông Nội, ngoại trừ bà chị, ông anh mà tôi đã nói ở trên. Hai người này thường được đưa về thăm ông bà Nội mỗi khi có dịp giỗ, Tết hoặc nghỉ hè.
Mặc dù không có nhiều dịp được ở bên ông Nội, hoặc không có nhiều kỷ niệm với ông, nhưng với anh chị em chúng tôi - và chắc chắn với nhiều người khác cũng vậy - hình ảnh ông Nội là một điều gì đó đầy kính yêu, rất mực quý trọng. Ông Nội là khuôn mẫu linh thiêng luôn được thương nhớ và tột bực tôn thờ.
Nói thì nói vậy, dù cách xa mấy, không ít thì nhiều thì chúng tôi cũng có thời gian gần gũi được bên ông. Năm 1975, sau mấy tháng loạn lạc, gia đình chúng tôi lúc đó đang tản cư ở Sài gòn đã quyết định dọn thẳng về Huế, vì ba mẹ tôi nghĩ đến quê hương bản quán, nghĩ đến ông Nội, muốn ở gần ông để có dịp gần gũi thăm viếng và chăm sóc ông.
Tất nhiên, ba mẹ tôi vẫn phải ở riêng. Gia đình tôi sống ở trên làng (quê Ngoại) và mấy anh chị em chúng tôi lúc bấy giờ mới được biết và gần ông Nội mỗi khi có dịp từ trên làng được về chơi phố.
Thời cuộc thay đổi nên cuộc sống cũng thay đổi. Morin không còn, tây đầm cũng không còn, giới thượng lưu cũng lo chạy gạo từng bữa ăn... vậy là ông Nội cũng rút lui về kiếm thuê một chỗ may gần nhà. Ngày ngày mở cửa tiệm, tối về đóng cửa tiệm. Thời trang quần ống túm, áo tay cánh tràn lan, vải vóc kiếm đâu ra mà may áo đầm, áo veste?
Kể cũng lạ, nghĩ lại, thời buổi nào phụ nữ cũng là giới se sua "quần là áo lượt". Ông Nội tôi từ chuyên may đồ đầm chuyển qua may đồ bà ba, áo cụt, áo dài, thậm chí sáng tạo kiểu áo đồ tàu, có nút thắt nhiều kiểu dáng, được làm và kết bằng tay rất là nổi tiếng. Khách hàng của ông Nội là các bà tiểu thương ở chợ Đông Ba. Rồi ông nhận học trò qua nhiều thế hệ, dạy may nhiều kiểu dáng áo bà ba, áo tàu.
Mỗi khi được ghé tiệm của ông vào những lúc rảnh rang, tiệm vắng khách hoặc không có gì làm, tôi được phép lấy cây thước may bằng gỗ để múa may, và chơi đánh kiếm. Tiệm may của ông Nội là một thế giới của màu sắc trong mắt trẻ thơ tôi. Vải vóc, phấn kẻ, chỉ màu... những suốt chỉ bằng gỗ không còn dùng. Ông cho tôi để làm chiếc xe càng đẩy mà tụi bạn nhìn vào tôi ganh tị.
Có lẽ, điều tôi thích nhất là được ông nhờ xâu chỉ. (tức là luồn sợi chỉ qua cây kim may). Với những đứa cháu như chúng tôi, được ông Nội nhờ là một nỗi tự hào, làm được việc gì cho ông là một niềm hãnh diện.
Còn nhớ có những lần buổi chiều xế xế, ông già đẩy xe bán cao lâu, phở gõ đi ngang. Vậy là tối hôm đó hai ông cháu tôi về nhà, nhìn nồi cơm độn sắn hoặc rế khoai mà lắc đầu nguầy nguậy đòi đi ngủ sớm.
Tuổi già, mắt yếu và bị bệnh lãng trí. Từ cửa tiệm thuê ông Nội chuyển về may ở nhà. Sau lần mổ cườm mắt thì ông giao hẳn sự nghiệp may vá cho chú út. Càng về già, bệnh của ông càng nặng. Có những hôm ông đi tận đẩu tận đâu, người nhà nháo nhào đi tìm nhưng cuối cùng có anh xích lô chở ông về vì "biết Ôn là người quen, thấy ôn đi lòng dòng bên rạp Hưng Đạo". Người nhà hỏi Ôn: "Đi mô mà qua tận bên nớ? Ôn tỉnh queo trả lời: Tao đi coi hát!"
Hồi xưa, có lẽ không có nhiều bia rượu, nên rất ít khi thấy ông uống. Sau này khi bệnh lãng trí nặng thêm, ông Nội đâm ra ghiền thuốc lá. Con cháu đứa nào đến thăm ông, ông gật gật vì không còn nhớ gì nhiều, ông chỉ hỏi khỏe không rồi hỏi xin thuốc lá.
Ông mất nhẹ nhàng như chính cuộc đời phong lưu của ông vậy. Đám tang của ông có khăn đỏ, khăn vàng.
Ông Nội sống phong lưu và thác linh thiêng, Cầu mong ông phù hộ cho con cháu có cuộc sống sung túc, phong lưu, bay nhảy như đời ông vậy đó!
Subscribe to:
Posts (Atom)











